Trích : Chữ chạy, cỡ chữ=20

Nguyệt xuyên há dễ thâu lòng trúc / Nước chảy âu khôn xiết bóng non - NGUYỄN TRÃI

Thứ Ba, 28 tháng 8, 2012

NGUYỄN KHÔI/ KÝ SỰ CAMBODIA...






CHÙM THƠ KÝ SỰ
VỀ CAMBODIA




NT NGUYỄN KHÔI
Hv Hội Nhà văn Hà Nội 


Xe TukTuk


Ba bánh xe đưa một vòng vãn cảnh
Ngỡ Hạ Long, DakLak, Bắc Ninh...
Mới thuở nào vai ba lô,súng đạn
Nay ngồi xe thỏa mắt ngắm thanh bình.

Siem Reap 2


Những biệt thự mang dáng hình chùa tháp
Hồn khmer chất ngất những mái nhà
Đi các ngả những dòng xe Tuk Tuk
Cây Bằng Lăng tím ngắt những đường hoa.

Nụ Cười BAYON


Tháp BayOn bốn mặt
Tạc hồn vào trời xanh
Miệng đá cười huyền bí
Hỡi Đức Phật hiển linh.

 Tâm Sự Nhà Sư Trẻ

       (tặng: Che TaNa)

Khất thực đi cả buổi
Được một nửa chén cơm
Đức Phật không cứu đói
- Thôi, đi về đi buôn...







Đường Lên Trời

Đường lên thiên đường không ai lên được
65 "độ" cao dôc ngược lối đá xanh
Tượng thiên thần mỉm nụ cười cay độc
Lừa bao người ham hố tượt chổng kềnh.

Phnom Bakheng

Chiều tà lên đỉnh Bakheng
Ngắm hoàng hôn rọi xuống đền Angkor
Hào quang vọng chút duyên thừa
Ngàn năm mây trắng vẩn vơ nỗi buồn. 

 

 

Đôi Mắt Khmer


Trông sâu thẳm mắt khmer lấp lánh
Đôi mắt đen thắp sáng mặt trời đen
Gió rừng biển phả dịu êm lai láng
Da đen hồng tươi mát mặt trăng em.
Thẳm sâu đôi mắt khmer
Cái buồn u ẩn để mê hồn người
Lệ rơi lệ đã khô rồi
Còn đây ánh lửa cho đời bừng lên.

 

Thăm Biển Hồ


Khách khen cá Biển Hồ ngon
Ngư dân ngụp lặn sóng cồn nhấp nhô
Nhà bè mái cỏ xác xơ
Bát cơm gạo hẩm,rau dưa qua ngày.
Trời cho một cái Biển Hồ
Đầy vơi cá nhảy bến bờ nước sâu
Phật không cho cái cần câu
Cá tôm nhiều thế mà sao vẫn nghèo.

 

Phnom Penh


Vui sang vãn cảnh Phnompenh
Mê Kông soi bóng,bồng bềnh tâm tư
Cốc bia chẳng thể tràn bờ
Làm Quan thì được,làm vua thì đừng
Chiều rồi ngồi ngắm Hoàng Cung
Thực dân - dân chủ phế hưng tranh quyền
Dân đen mạt kiếp dân đen
Cu li,đỉ điếm nghèo hèn thế thôi
Tòa sen Phật tĩnh tọa ngồi
Diệt sao dục vọng lũ người trần gian?
Phnomphenh phố xá rộn ràng
Bâng khuâng hoa tím ngỡ ngàng khách du. 
                                           N.K



NGUYỄN VĂN CHƯƠNG/ CÁI BÁT KHẤT THỰC




ẢNH CHỤP TẠI "TỆ XÁ" 
CỦA NGUYỄN VĂN CHƯƠNG - MÃO ĐIỀN
TỪ PHẢI:
DUY PHI - NGUYỄN VĂN CHƯƠNG - MINH LONG - 
DUY KHOÁT - XUÂN TRỊNH - BÍCH HÙNG - XUÂN QUẢNG



                CÁI BÁT KHẤT THỰC

           thơ  NGUYỄN VĂN CHƯƠNG
  

        Cái bát khất thực
        Chẳng sợ ma bằng đói
        Huyền Trang sang Tây Thiên
        Vua Đường cho cái bát
        Để thày trò ăn xin

        Người giữ kho kinh Phật
        Thì cũng là Phật thôi
        Lót tay, đừng tiếc nữa
        Cái bát tộ vàng mười
        Phật chưa tin, gõ thử
        Tiếng vàng kêu, Phật cười

        Muốn được kinh có chữ
        Từ nay ngắt lá khoai
        Ngửa ra mà khất thực
        Ngứa cổ biết kêu ai?






Lời bình của
DUY PHI:

        Tám câu đầu bài thơ là văn tự sự: Thày trò Huyền Trang trước khi sang Tây Thiên được vua Đường cho cái bát (bát tộ, bằng vàng mười) để đi ăn xin. Đến Tây Thiên, để có những quyển kinh thật, thày trò phải lót tay cho vị coi kho kinh cái bát tộ ấy. Cứ tưng tửng thuật lại thôi mà ý thơ đã sinh, tứ thơ đã nảy.
        Bài thơ Cái bát khất thực, tác giả có sử dụng mấy từ Hán Việt: khất thực, tộ. Khất thực: xin ăn. Tộ là lộc là phúc... Bát tộ, bằng vàng mười, cái bát nhà vua ban cho phúc, lộc. Nhưng rồi, để lấy được kinh có chữ, để về nói có sách mách có chứng, thày trò Huyền Trang đã phải lót tay cho vị giữ kho kinh. Lót tay là từ thuần Việt, nghĩa đen: dùng một vật mỏng nào đấy đặt vào tay để có thể cầm được vật nóng có thể gây bỏng, nghĩa bóng nghĩa rộng thường là dùng tiền bạc biếu xén người làm công vụ để cho việc mình đề đạt được trơn tru. Trong Kiều, khi Vương ông gặp nạn, bị oan bị đánh đập, đoạn ấy có câu Tính bài lót đó luồn đây, tiếp đó là câu Có ba trăm lạng việc này mới xuôi... Đó là xã hội phong kiến, chốn phàm trần. Ở trần gian, đi chợ, mẹ ta mua trầu mua phải lá đa/ mẹ ta mua gà mua phải cuốc con. Đến cõi Phật Tây Thiên, nghĩ có thực mới vực được đạo, đâu có chuyện nhốn nháo? Nhưng không phải vậy, vị coi kho kinh đã từng phát cho những cuốn kinh giả, không có chữ. Thày trò Huyền Trang phải lấy cái bát tộ để “dâng”, “tặng”. Nhà Đường thời ấy, thiên hạ là thiên hạ của thiên tử, con dân là con dân của đức vua. Đường trường vạn dặm, hơn là cho gạo cho tiền, vua ban cho cái bát bằng vàng, đi đến đâu chìa ra thiện nam tín nữ biết ngay, ăn xin đó quyên góp đó mà uy quyền đó. Bát tộ là vật bảo bối. Mất bảo bối này, thày trò Huyền Trang trước hết là đói, sau nữa khôn lường tai hoạ. Vậy mà đâu ngờ, cõi Phật vẫn có cảnh nước khe đè nước suối. Thày trò Huyền Trang bảo nhau “đừng tiếc nữa”, không có cách nào khác.
        Đến hai câu: Phật chưa tin, gõ thử/ Tiếng vàng kêu, Phật cười thì ý thơ đã chuyển mạch. Vị coi kho chẳng cả tin. lại rất thành thạo trong việc nghe âm thanh phân biệt được vàng thật, vàng giả.




        Đặt bút viết hai câu này, dường như tác giả có một nụ cười hài hước.
        Hai câu thơ kết, từ việc phải ngắt lá khoai thay bát tộ đi khất thực, tác giả bất ngờ chuyển ý Ngứa cổ biết trêu ai? Có hoạn nạn, người ta thường cầu khấn. Nhưng Tây Thiên đã thế, còn biết kêu ai nữa! Cách nói dân dã, đạt diệu nghệ.
        Bài thơ dựa trên một số cảnh ngộ trong Tây Du Ký, mượn xa nói gần, tư tưởng của tác phẩm đã bộc lộ. Trong sáng tạo, tác giả nào cũng vậy, thường từ cõi trần hiện thực mà hình dung ra tiên thánh. Bài thơ có nét trào phúng với đôi ba vị nào đó khẩu Phật tâm xà (miệng Phật tâm rắn), với kẻ chẳng mấy chân tu, Trống chùa ai đánh thì thùng/ Của chung ai khéo vẫy vùng thành riêng chứ đâu dám nói đến toàn Phật thổ. Đất Phật, đó là cả một thế giới người hiền: Đức Phật Thích Ca, các vị Bồ Tát... Nghìn năm nay, các Phật tử ta vẫn hằng nhất tâm nhất niệm.
        Nghề thơ, hồi mới viết người ta thường sính dùng nhiều từ hoa mỹ, lấp lánh; dần dần, mới thấy cành nhánh nhiều thì rườm rà, phần dác là vô bổ, thơ cũng cần đến thẳng cái lõi. Gần với lời nói thường, đó là một kiểu thơ hiện đại, đậm hơi thở của đời sống. Trong bài thơ này, nhiều câu đơn mà ý phức, từ ngữ đạm mà nồng, chân mà ảo. Bài thơ Cái bát khất thực là một cách cảm nghĩ, một lát cắt hiện thực xã hội, dẫu tác giả viết đã lâu, nay ý nghĩa thời sự vẫn khiến ta trăn trở.
        Có trong tay tập thơ Gửi người đang yêu (NXB Hội Nhà văn. 2001) của nhà thơ Nguyễn Văn Chương, khi làm sách Thơ Việt Nam thế kỷ XX - Thơ trữ tình (2005), Nhà thơ Nguyễn Bùi Vợi (Chủ biên) thẩm định thơ quả là tinh lắm, ông đã chọn bài thơ Cái bát khất thực đưa vào Tuyển.
                                                                             
                                               D.P 


Thứ Hai, 27 tháng 8, 2012

LỤC BÁT/ NGUYỄN HIẾU





                                   NHÀ VĂN
     NGUYN HIU

   Nguyễn Hiếu - Hội viên Hội Nhà văn Việt Nam,  quê Từ Liêm Hà Nội, tốt nghiệp ĐHTH Văn Hà Nội, Phóng viên Đài Tiếng nói Việt Nam. Ông nổi tiếng trên nhiều lĩnh vực: Thơ, Biên kịch sân khấu, Văn (đã xuất bản 22 tiểu thuyết, 7 tập truyện ngắn). Đã được nhiều Giải thưởng về Thơ, Truyện ngắn, Tiểu thuyết và Kịch…ĐTM trân trọng giới thiệu chùm thơ của Nguyễn Hiếu.


LÃNG ĐÃNG
CHÚT TÌNH

Em về áo mỏng vắt vai
Mi thưa chớp nhạt đêm dài mưa ngâu
Em đi sen đã tàn đâu
Mà mong thấy nhuỵ đổi màu cốm xưa
Chim khôn ngơ ngác sân chùa
Mõ rung một khúc gió đùa ngang mây
Ta buồn trời đổ heo may
Một đàn sáo sậu đậu đầy lưng trâu
Môi hồng giờ đã nhuộm nâu
Cái ngày xưa ấy ở đâu cuối trời
Người đi rơi mấy giọt đời
Chốn nhà chìa đã bạc vôi bên thềm
Rậu thưa, ruối đã vàng ươm
Giếng xưa thoảng một chút hương thủa nào
Em về vùn vụt chiêm bao
Ta ngồi nhặt chút ước ao tặng mình
Em đi nắng nhạt mái đình
Ta ru lãng đãng chút tình đợi trăng

Ngày hai cháu nội
về quê ngoại.
21. 6. 2008




HỮNG HỜ, BẤT CHỢT

Em về tình mỏng vắt vai
Lược cài vào nhớ ,môi cài vào yêu
Gót trơ chạm lặng khói chiều
Chim khuyên run mỏ hót trêu ruối vàng
Đu đưa chểnh mảng đò ngang
Một nàng rồi lại hai nàng tuyết trinh
Sương reo ướt sũng mảnh tình
Chơ vơ sót lại một mình sang sông
Nửa buồn gõ nhịp tầm vông
Tay nào có ,tay nào không hở trời
Nhạt phèo ngải phải về thôi
Bỏ ta ở góc cuộc đời ,đành không ?
Một mai ai chợt chạnh lòng
Phấn hoa loang nhuộm cành hồng đầy gai
Ai lên quán Dốc ngày mai
Nhớ đừng quên một cụm mây lưng đồi
Ngang ngang ,ngửa ngửa chơi vơi
Bới tìm mãi thấy chút người trong ta.



NGẨN NGƠ
HỒ TÂY, CHIỀU…


Tây Hồ nghiêng, chiều dần buông
Bâng khuâng chuông,
       bâng khuâng chuông .. sương mờ
Non Đoài gái lẻ thẫn thờ
Ba con chuồn ớt vẩn vơ cọc rào
Sóng chao nhấp nhoáng chiêm bao
Nghi Tàm xưa có ổi đào tháng năm
Áo em cổ lá sen nằm
Xanh mơ lóe giữa vàng tằm cuối thu
Đèn quầng thèm ánh trăng lu
Chợt già chạnh nhớ tiếng ru… đâu rồi
Ngó quanh mình chẳng thấy tôi
Lá liễu vẫy hẹn một đời đón đưa
Trầu vàng dãi gió dầm mưa
Cau non sáng chạm quá trưa đã sầu
Kẻ đi đấy kẻ về đâu
Sênh đàn, sáo nhị qua cầu với ai
Lươn ngắn chê mãi chạch dài
Có kẻ dám sống với hai lời thề
Bây giờ không có bờ đê
Hỏi người còn có siêng về Nhật Tân
Hồ mênh mông cũng chật dần
Mây mơ xa hóa mây gần lơ thơ
Một rằng mong, hai rằng chờ
Con thiên nga gỗ chạm bờ bê tông.
1/10/2010

Chủ Nhật, 26 tháng 8, 2012

ĐẶNG THU THẢO/ HOA HẬU VIỆT NAM - 2012





ĐNG THU THO



ĐĂNG QUANG
HOA HẬU VIỆT NAM - 2012

Cô gái đến từ Đồng bằng sông Cửu Long Đặng Thu Thảo (21 tuổi) đã giành vương miện Hoa hậu trong đêm chung kết Cuộc thi Hoa hậu Việt Nam 2012 diễn ra tại Cung thể thao Tiên Sơn, TP Đà Nẵng tối 25-8. 























ĐẶNG THU THẢO (GIỮA)






PHẠM XUÂN TRƯỜNG/ MƯA CHŨ








Nhà thơ
PHẠM XUÂN TRƯỜNG
Hội viên Hội Nhà văn Việt Nam



  MƯA CHŨ     (*)

        Tặng nghệ  sĩ Trần Thị Hương Giang 

Cá rán vàng, thỏ sốt vang
Vợ con tất bật quáng quàng... còn ông
Thẳng lưng tay chống ba toong (**)
Bạn bè thơ phú nhà trong nhà ngoài
Biết là những thứ rác tai
Vợ con nín lặng nhìn ai cũng cười
“Thay vì một bữa rau tươi
Thỏ nhà  “sẵn có” gà đồi “chẳng nuôi”...





 
Mấy khi các bác lên chơi
Bữa cơm rượu nhạt xa xôi tìm về”
Rượu vào thơ phú lê thê
Vợ con đánh vật bốn bề nồi xoong
Hưu non giờ trắng tay không
Nuôi con, nuôi cháu,
                      nuôi chồng làm thơ
Cổ kim cho đến bây giờ
“Lập thân tối hạ” ai ngờ là đây
Em như trăng chửa kịp đầy
Mảnh mai thân vạc cò gầy ven sông
Nhớ câu  “Nhất sĩ nhì nông”
Còn tiền còn gạo còn đông bạn bè
Chí Phèo chửi thẳng... ai nghe
Nữa là thơ phú vần vè mà chi...
Em cười tiễn bọn tôi đi
Một trời mưa Chũ rầm rì buồn tênh





Mình còn hưu sống bập bềnh
Bạn tôi tay trắng nổi nênh kiếp người
Thương chồng, thương lũ dở hơi
Em như cô Tấm giữa đời bao dung
Người ta ca tụng anh hùng
Thơ tôi nghiêng xuống
                           mịt mùng trầm luân. 

----
(*) Thị trấn Chũ - tỉnh Bắc Giang
(**) Cựu nghệ sĩ Trần Thái Triển bị vôi hoá cột sống
     không ngồi xuống ghế được, anh chỉ đứng để tiếp khách.
 



Thứ Bảy, 25 tháng 8, 2012

NHÀ THƠ KIM Ô/ NHỮNG VẦN THƠ CUỐI







NHÀ THƠ KIM Ô 
(1942 - 2012)


 Do bệnh trọng, sau mấy tháng được gia đình, bệnh viện điều trị và chăm sóc vẫn không qua được, Nhà thơ Kim Ô đã trút hơi thở cuối vào lúc 6 giờ sáng hôm qua (25 tháng 8 năm 2012) tại nhà riêng ở Chu Điện, Lục Nam, Bắc Giang.
Chia buồn sâu sắc cùng gia đình, họ hàng, bè bạn của nhà thơ, ĐTM giới thiệu một số bài thơ cuối của NT Kim Ô thay cho những nén nhang tưởng niệm và bài thơ NHỚ của NT Vũ Từ Sơn, viết trong chiều cùng NV Đặng Tiến Huy, NT Duy Phi viếng bạn...  
 
Kim Ô, tên khai sinh: Nguyễn Hồng Nguyên. Hội viên Hội VHNT Bắc Giang. Tác phẩm chính - Thơ: * Hương đất (3 tác giả) - Hội Văn học Nghệ thuật Hà Bắc, 1984 * Lặng lẽ vầng trăng - NXB Hội Nhà văn, 2005 * Chạm vào xa xanh - NXB Hội Nhà văn, 2008.  Tậpthơ Chạmvàoxaxanh, Giải thưởng VHNT Sông Thương (2003-2007)









 
 VỀ QUÊ
 VIẾNG MẸ

Con về viếng Mẹ chiều mưa
Gió giăng giăng thổi núi lưa thưa ngồi
Hoàng hôn ướt đẫm mưa rơi
Mang hình dáng Mẹ trắng trời mây bay. 

CHO

Bàn tay ngửa giữa cuộc đời
Dù chưa cho đã được lời cầu vinh
Làm ơn một chút nhân tình
Cho là được thứ hơn mình đã cho.
 
BỐN MẮT
NHÌN NHAU

Một lần anh bỗng nhìn em
Thế là bốn mắt cứ thèm nhìn nhau
Thế rồi cha mẹ trầu cau
Thế là bốn mắt nhìn nhau suốt đời.


************************


VŨ TỪ SƠN

Hội viên Hội VHNT Bắc Giang 


NHỚ


Thắp nén hương thơm lặng nhớ anh
Mấy trang dang dở, cũng thôi đành
Mai ngày họp bạn, quên sao được
Một dáng ca dao, giọng ấm tình. 

Hương đất, Phận đèn… vừa mới đấy
Lặng lẽ vầng trăng,  sao đổi ngôi! 
Anh “đi”, đôi cánh thơ không mỏi
Sẽ chạm  xa xanh phía cuối trời… 

                    Lục Nam, 25-8-2012 





Thứ Sáu, 24 tháng 8, 2012

QUẾ LÂM - TRUNG QUỐC/ ĐỌC THƠ TRẠNG BÙNG




TRẠNG BÙNG


Quế Lâm (Trung Quốc) có 
đền thờ vua Ngu Thuấn
Đến thăm
Chợt nhớ, bài thơ Hiếu 
của cụ Trạng Bùng   Phùng Khắc Khoan 
có câu về vua Ngu Thuấn... 



 * Phùng Khắc Khoan (1528- 1613), quê làng Bùng, Thạch Thất, nay thuộc Hà Nội. Đỗ Hoàng giáp. Làm quan đến Thượng thư bộ Công, bộ Hộ, tước Mai Quận công. Từng đi sứ phương Bắc. Tác phẩm: Ngư phủ nhập Đào nguyên, Lâm tuyền văn...    






 TƯỢNG VUA NGU THUẤN





HƯƠNG KHÓI NGHI NGÚT
TẠI ĐỀN THỜ VUA NGU THUẤN, QUẾ LÂM


               
                      HIẾU 

Thiên kinh địa nghĩa thực di luân
 Bách hạnh đo tòng nhất hiếu thuần
Thành kính bất vong tâm tại ngã
Thủy chung duy đốc sự hồ thân
Đại xưng Ngu Thuấn nhân nhi thánh
Đạt mỹ Chu Công tử hựu thần
Cắng cổ lại kim đồng thử lý
Ta dư hà  dĩ báo huyên xuân .

             Phùng Khắc Khoan
   
Dịch thơ:

                     Hiếu

Hiếu là cái gốc đạo thường luân
Trăm đức đều do tự hiếu thuần
Thành kính trong tâm luôn mực thước
Phụng thờ giữa dạ trọn mười phân
Chu Công sử sách nêu  hiền  hiếu
Ngu Thuấn người xưa trọng thánh nhân
Lý ấy ngàn đời chung một lẽ
Báo đền công đức vẹn song thân .

                  
    Nhất Tâm dịch 




TỪ TRÁI :
 - 
CHÁU HOÀNG MINH - CÔ GIÁO BÍCH HẰNG 
MRS BÍCH LOAN - NT DUY PHI - 
MRS ĐỖ THỊ PHƯỢNG -  CHÁU KIỀU OANH
MRS NGUYỄN HOA (GỐC BẾN TRE, QUỐC TỊCH MỸ) 

 (Ảnh trên sông Ly, Quế Lâm 12/8/2012) 



DUY PHI TÔI
TRONG CÔNG VIÊN NGU SƠN 
(Ảnh 11-8-2012)