Trích : Chữ chạy, cỡ chữ=20

Nguyệt xuyên há dễ thâu lòng trúc / Nước chảy âu khôn xiết bóng non - NGUYỄN TRÃI

Thứ Tư, 20 tháng 6, 2012

THƠ PHÙNG CUNG*





NT PHÙNG CUNG


 PHÙNG CUNG 
  (1928 - 1997) 




SAY

Ai chuốc rượu
Cánh buồm say lảo đảo
Quanh quẩn quãng sông chiều
Quên nẻo ra khơi.









BUỒNG THƠM

Đêm vắng
Buồng thơm
Em soi gương trộm
Ngọn đèn mượn gió nghé nghiêng.


Ê ẨM

Chợt nghe động trống
Trâu bò nhớn nhác
Dùi quật liên hồi
Ê ẩm tấm da khô.






-----
* Tạp chí Thơ, Số 4 - 2012




Thứ Hai, 18 tháng 6, 2012

THƠ VŨ TỪ SƠN: THĂM ĐẢO VINPEARL...




TRƯỚC CHUYẾN DU NGOẠN
NT VŨ TỪ SƠN & MRS THANH TÂM



VŨ TỪ SƠN 
Hội viên Hội VHNT Bắc Giang  






 VINPEARL NHA TRANG



THĂM ĐẢO VINPEARL

Cáp treo vượt biển ra thăm đảo
Từng khoang nối tiếp nối tầm tay
Ta học nước người ta cải tiến
Thưởng ngoạn Vinpearl trọn một ngày.






TẮM BÙN - NHA TRANG


TẮM BÙN

Cảm ơn núi lửa ngày xưa
Cho ta bùn tắm, như vừa đấy thôi
Bùn mà qúy vậy, nhờ trời
Kinh thiên động địa tuyệt vời mai sau... 

                                   Nha Trang 13-6-2012

Chủ Nhật, 17 tháng 6, 2012

DƯƠNG KHÂU LUÔNG VỚI BẮC GIANG






  NT DƯƠNG KHÂU LUÔNG

Dân tộc: Tày. Quê: Bản Hon, xã Bành Trạch, huyện Ba Bể, tỉnh Bắc Kạn. Trú quán : Phố huyện Ba Bể, tỉnh Bắc Kạn. Hiện là Chủ tịch Hội VHNT Bác Kạn. Hội viên:  Hội Nhà văn Việt Nam, Hội Nhà báo Việt Nam, Hội VHNT các DTTS Việt Nam...
          Đã xuất bản 5 tập thơ: * Gọi bò về chuồng (tập thơ thiếu nhi)- 2003 * Dám kha cần ngám điếp ( tập thơ tiếng Tày)- 2005 * Bản mùa cốm (tập thơ thiếu nhi)- 2005 * Bắt cá ở sông quê (tập thơ)-NXB Hội Nhà văn-2006 * Co nghịu hưa cần (tập thơ song ngữ  thiếu nhi Tày -Việt ) - NXB Văn hóa Dân tộc-2008
 






TRƯỚC MỘC BẢN
VĂN TỰ CHÙA VĨNH NGHIÊM*

Bảy trăm năm
                    bao mộc bản còn đây
Những trang văn sáng ngời trên nét chữ
Hồn dân tộc thổi lên từ đó
Tôi thấy mình bé nhỏ trước những trang văn.

Bắc Giang 8/12/2011







CHÙA VĨNH NGHIÊM 

CỔ THỤ
DÃ HƯƠNG NGHÌN NĂM TUỔI

Ngày ấy có bao nhiêu cây như thế
Bây giờ chỉ còn lại một cây thôi
Ơi cây dã hương nghìn năm tuổi
Bao trăm năm cây sống có buồn?

Giờ cây đâu chỉ sống cho riêng mình
Mà sống cho cả những cánh rừng đã mất
Phận cây buồn, cây đau... ai biết
Ai thương cây - chứng tích cuối cùng
của một thủa hồng hoang




 DÃ HƯƠNG NGÀN TUỔI
xã Tiên Lục, Bắc Giang 


Tự hào trên đất này có cây cổ thụ dã hương
Gió thổi rỗng ruột bên trong cây vẫn sống

Ơi cây cổ thụ dã hương nghìn năm tuổi
Có phải nặng lòng thương những cánh rừng đã khuất
Gom hết tàn sức già nua cây gắng sống từng ngày./.

Bắc Giang 8/12/2011


 ----
* Chùa Vĩnh Nghiêm ở huyện Yên Dũng, tỉnh Bắc Giang.

Thứ Bảy, 16 tháng 6, 2012

NHỚ NHÀ NGHIÊN CỨU VĂN HỌC DÂN GIAN TRẦN VIỆT KỈNH





TRẦN VIỆT KỈNH
(1950 - 2006) 


Ông quê: Quảng Điền, Thừa Thiên - Huế. Nhiều năm ở Nha Trang – Khánh Hòa. Hội viên: Hội VHNT Khánh Hòa, Hội Văn nghệ Dân gian Việt Nam. Đã xuất bản một số công trình nghiên cứu: Thơ ca dân gian Phú Khánh (1982), Truyện cổ dân gian Phú Khánh (1985), Đất nước con người Khánh Hòa(1989), Nữ thần Pô - na - ga (1990) & tập thơ Lửa và Đất...
Sinh thời, ông quan hệ thân thiết với một số bạn hữu Bắc Giang, có làm bài thơ PHỐ TRUNG DU, đã in trong tuyển THƠ BẮC GIANG THẾ KỶ XX, Nxb Hội Nhà văn- 2002. Ngày ông khuất (16/6), mới đấy đã 6 năm, thay cho nén nhang tưởng nhớ, ĐTM giới thiệu một chùm thơ của ông, trong đó có bài thơ Phố Trung du.  




HÌNH ẢNH NHA TRANG



 MƯA XUÂN PHỐ BIỂN 


Mưa rắc bụi đường xuân
Hoa ô xòe màu sắc
Khoảng trời tròn ấm áp
Hai mái đầu che nghiêng


Bên thềm xanh lục địa
Biển xanh dâng sóng tình
Thấp thoáng chùm hoa sóng
Nở mãi ở cuối ghềnh.


Giọt mưa nào trên má
Môi em bỗng thoáng cười
Bởi mùa xuân đẹp quá
Đời vui cứ nhân đôi.





SA PA


MƯA CHIỀU SA PA 

Sa Pa phố nhỏ, mưa chiều 
Cho tôi sâu lắng bao điều, người ơi!
Sương mờ phủ khắp nơi nơi
Bạc đầu, thông đứng giữa trời hiên ngang
Mưa trên phố núi giăng màn
Đỉnh Hàm Rồng vẫn mơ màng trong mây
Rượu San Lùng uống vừa say
Gái Dao xuống núi gùi đầy chợ phiên
Chợ tình ai thức thâu đêm
Tiếng khèn Mông vẳng bên triền núi xa
Mưa chiều phố nhỏ Sa Pa
Một mình ta
                  Một mình ta.
                                      Mưa chiều... 
                                         
                                          26-7-2002
                  



SÔNG THƯƠNG 



PHỐ TRUNG DU

               KT nhà thơ DP

Phố sớm Trung du sương mờ giăng giăng
Tiếng rao bán hàng rong như một làn mây mỏng
Vắt ngang hai đầu ngõ hẻm
Giọng ngân cao tận cuối những con đường.

Chợ Thương họp để chờ người thương
Em buôn bán, em cắm sào đứng đợi?
Con sông Thương mùa nào cũng vậy
Ngược xuôi tất tả những con thuyền.

Tôi cùng bạn bước trên hè phố lặng im
Phố sớm Trung du còn đang ngái ngủ
Hàng bánh cuốn nóng bên đường
bếp lò than cháy đỏ
Ngọt lời mời đặc sản quê hương...

Ta nhớ sao những con đường phố cũ
Nơi ngôi nhà mở cửa hướng bờ sông
Nhà văn già bên bàn khuya ngồi viết
Ánh đèn đêm cũng đủ ấm lòng.

Xin một lần trở lại phố Trung du
Nơi lúng liếng đôi mắt người Kinh Bắc
Nơi ta gặp những “sĩ phu Bắc Hà” thứ thiệt
Trong văn chương và thương mến bạn bè.

                                                  Bắc Giang 12- 2001
                                                  Nha Trang 1- 2002
                                                               T.V.K


Thứ Sáu, 15 tháng 6, 2012

ĐỌC TẬP THƠ GIỌT NHŨ, BÀI: CHU NGỌC PHAN







  NT CHU NGỌC PHAN
  TẠI LŨNG CÚ - HÀ GIANG (2/6/2012)


             
                                   GIỌT NHŨ TÝ TÁCH RƠI…
                                                        
                       Nhân đọc tập thơ “Giọt nhũ” của Duy Phi
                                                     Nxb Hội Nhà văn-2012

     Tập thơ mỏng nhưng dung lượng đầy đặn, hàm súc. Tác giả có ý gom những bài thơ của mình, viết về đề tài miền núi vào tập thơ này, để làm món quà đầu tiên kính tặng núi rừng. Duy Phi tâm sự: “Mình cả đời dạy học ở miền núi Côn Sơn, Lục Nam, Lục Ngạn…Giờ lại là hội viên Hội VHNT các DTTS VN, nên quyết in tập thơ này với số lượng khá để tặng được nhiều các bạn thơ xuôi ngược”. Anh Phi xưa nay vẫn là người luôn đầy đặn nghĩa tình như vậy.
    Có lẽ cũng vì thế mà các danh nhân anh chọn để viết trong tập thơ cũng phần lớn cư trú ở miền núi: Lê Văn Thịnh, Chu An, Vạn Hạnh, Trần Nhân Tông, Lê Lai, Huyền Trân công chúa, Cao Bá Quát, Hàn Mặc Tử…Thơ viết về các vị nào cũng hay và xúc động. Bài thơ “Rồng đá ở đền thờ Lê Văn Thịnh” nghe xa xót làm sao: “Hàm rồng mà răng lang sói/ Đầu rồng sao giống xà tinh?”. Rồng vốn là biểu tượng của đế vương mà như vậy, thì Lê Văn Thịnh- vị quan đầu triều nhà Lý, bị kết tội oan giết vua cũng không có gì lạ, khác nào bức tượng rồng quái đản: “…đang ngoạm thân mình. Máu rơi!” ấy. Bài thơ Duy Phi ngợi ca Cao Bá Quát tài cao, chí cả cũng tuyệt lắm! Thi nhân họ Cao được khắc hoạ như một pho tượng lớn hào hùng, bi tráng: “Ngạo ca chàng vin  mây lên đỉnh/ Hát cho trời ngoài trời/ Chàng tôn thờ Tiểu Ẩn, Ức Trai/ Một đời chỉ cúi đầu trước mai…”. Với ít câu thơ, tác giả đã khéo gói trọn những nét tính cách tiêu biểu của một kẻ sĩ nổi tiếng bất khuất trước cường quyền. Qua ngã ba Đồng Lộc, anh có bài thơ: “Mười nén nhang dâng mộ” dồn nén đến tận cùng nỗi nghẹn ngào thương cảm: “ Mười cô gái Đồng Lộc đây/ Mắt tôi cạn lại đong đầy long lanh”. Với tiền nhân, anh cảm phục và kính trọng. Thấp thoáng trong những vần thơ, anh chân tình bày tỏ niềm tri ân và tâm nguyện được học theo tài đức của họ, đặng làm giàu thêm cho tâm hồn mình.




 
    Cũng vì đây là món quà kính tặng núi rừng, nên hầu hết các địa danh anh từng đến và viết trong tập thơ là ở trung du, miền núi. Anh hướng lên miền ngược như một thi sĩ khát khao chia sẻ tâm tình: “Ngược đường lên Mường Thanh, Mường Than/ Mới biết biển sông nợ núi ngàn/ Câu quan họ nợ vòng quay cọn nước/ Trăm màu rực rỡ nợ hoa ban”. Cứ theo con đường đó, anh đi điền dã khá nhiều, từ Bắc vào Nam, từ xuôi lên ngược, nhìn lướt qua mục lục cũng đếm được bốn chục địa danh miền núi ở các tỉnh: Bắc Giang, Hà Giang, Lào Cai, Yên Bái, Lạng Sơn, Hoà Bình, Quảng Ninh, Vĩnh Phúc, Phú Thọ, Thanh Hoá, Hà Tĩnh, Quảng Bình, Bình Định, Bình Phước, Đà Lạt…Anh còn đi qua nhiều địa danh nội tỉnh các tỉnh nói trên, nhiều chuyến chỉ mình anh đi lầm lũi.
     Khe Rỗ thuộc huyện Sơn Động, tỉnh Bắc Giang, nơi anh rất ưa thích cảnh sắc thiên nhiên kỳ thú. Bài thơ “Vũng tròn” của anh có nhiều hình ảnh đẹp, lai láng cảm hứng lãng mạn: “ Vũng Tròn, vũng nước thật tròn/ Vai em trắng muốt cây còn sững cây/ Đố ai biết triệu năm nay/ Chị Hằng Nga xuống tắm đây bao lần?”. Qua ải Chi Lăng, Lạng Sơn anh có ngay thơ cảm tác về khí phách cha ông thuở diệt thù: “Tan giặc rót trăng rửa kiếm cung/ Men rượu lâng lâng thi tứ nồng…”. Một chuyến xuyên rừng Tây Yên Tử, anh liền nảy ra tứ thơ về loài rắn thật ấn tượng: “Nay rừng hết, rắn cuộn trong ký ức/ Đã lẫn người/ những mai gầm, hổ lửa, xà tinh?”. Về với Phong Nha- Kẻ Bàng, tại nơi kỳ thú danh lam này, nhà thơ có sự đồng cảm tương giao thật lạ với giang sơn gấm vóc: “Kỳ công đến gặp kỳ quan/ Lắng trong giọt nhũ thời gian gọi mình”. Leo núi đá, thăm rừng nguyên sinh, hữu duyên gặp ngay mấy cây nghiến, anh viết bài thơ: “Những cây nghiến”, được khá đông độc giả tâm đắc, ghi nhớ: “ Sống trên đá cây cứ xanh/ Dời phẳng phiu nhận gập ghềnh cheo leo/ Thản nhiên nắng sớm mưa chiều/ Thản nhiên trước cả lưỡi rìu thời gian”. Đó là chất hồn nhiên vô tư thi sĩ, mà anh đã gửi trọn vào bài thơ bộc lộ lối sống của mình. Vào Bình Định anh đến thăm thành Chà Bàn, nơi Huyền Trân công chúa, con của đức vua Trần Nhân Tông có thời làm vợ vua Chiêm: Chế Mân tại đây. Những dòng thơ anh viết về Huyền Trân thật ngậm ngùi, thương cảm: “ Thành xưa cây có ngậm ngùi/ Cánh Tiên tháp đó bóng người tiên đâu?”. Đến nơi nào anh cũng có thơ về nơi ấy, những bài thơ hay, đậm chất trữ tình sâu lắng…
     Tập thơ “Giọt nhũ” cũng thoáng ánh lên chất tình ca trong sáng, xúc động. Anh có bài thơ “Rễ người” mượn ý một thành ngữ của dân tộc Tày, để nói lên khát vọng tâm giao bạn bè, thơ phú. Anh kết bạn rộng, và trên đó đôi khi cũng nở tím những bông hoa tình yêu xinh xắn. Anh suy ngẫm về các cung bậc của tình yêu rồi cảm nhận: “Chim khôn ngưng hót càng hay/ Người khôn ánh mắt đủ lay nghiêng thành”. Có những vần thơ tình yêu dường như anh viết trong chiêm bao: “ Khuya rừng gió lộng quá thôi/ Em như cung nữ mà tôi…ông hoàng”. Đúng là anh hay mượn cây cỏ để nói tình nói chí. Lối ẩn dụ ấy luôn tạo ra cảm hứng thăng hoa, giúp anh sinh hạ những vần thơ giàu sức gợi: “Khuya dạ lan không ngủ/ Cây đứng mà hương bay”. Chúng ta biết tình yêu đôi lứa vốn có giác quan riêng, nhạy cảm đến thần kỳ, nhưng để nói cụ thể thứ linh thiêng huyền bí ấy thì mấy ai đã làm được. Nhà thơ Duy Phi đã nói giúp ta về điều đó. Đưa bạn ra ga lên tầu xong, mình anh trở về căn buồng riêng trong đêm thấy mình như hoá đá. Anh bật lửa, cầm que diêm đến mức: “Cháy tay” rồi mới “biết lòng đang cháy/ Đèn có tim đèn ta vắng em”. Ở một bài thơ khác, anh dùng phép giả định để khảng định sự gắn kết không gì chia tách nổi của niềm yêu đích thực: “ Nếu chia ta đến tận cùng bé nhỏ/ Tận cùng nào không mang bóng em anh”. Giờ đây, anh đã cao tuổi, nhưng lửa tình yêu thì vẫn cháy khôn nguôi, sáng trong và thánh thiện. Ra vườn thấy quả ổi chín chim ăn một nửa, lòng anh lại bồn chồn ký ức:“ Trái ổi nhỏ ngọt ngào nỗi nhớ/ Một đôi lần ăn chung trái cùng em”. Nhà thơ Duy Phi giỏi về thơ tình. Anh khéo chớp được những chi tiết ấn tượng để khắc hoạ. Nhiều bài thơ tình của anh đã thấm lòng người đọc, có thể thành ngôn ngữ tình yêu cho các thế hệ mai sau.




 
     Duy Phi có sở trường viết thơ duy cảm, nhưng đôi khi thơ anh cũng loé lên những chiêm nghiệm, đậm chất triết lý, đánh thức người đọc nhiều về nhân sinh, lẽ sống. Nhà thơ Duy Phi vốn tôn trọng tự nhiên. Trong một bài thơ anh viết:“ Đá mọc ngoài học thuyết/ Tùng trúc chẳng gieo vần/ Sương mù khước minh triết/ Xanh rừng ngạo công huân”. Tự nhiên có quy luật của tự nhiên, tự nó sẽ làm nên giá trị và vẻ đẹp. Bất thần tôi lại vập vào một suy ngẫm khác, một công việc bình thường quen thuộc nhưng anh đã có cách nói riêng:“Muốn chè sai búp/ Gốc cần đốn đau”. Vâng, đó là hệ nhân quả, câu thơ ngắn mà sao ý rộng. Ở một bài thơ khác anh đã khéo cài đặt vào thơ mình những bài học về đối nhân xử thế thật chí lý, chí tình. Con người muốn được thanh thản cũng phải được rèn luyện, tu dưỡng: “Tập thanh thản cả khi không thanh thản/ Tự ru mình qua ác mộng Mỹ Lương”. Điều hướng tới của triết lý này chính là chữ “Nhẫn” mà anh thường tâm đắc. Đọc đến bài thơ: “Gần và xa” trong tập, tôi đã giật mình trước một minh triết: “Cái gần gần đấy mà xa/ Cái xa xa chẳng đường qua lại gần/ Cái gần lẻ bóng xa dần/ Cái xa đi hết đường trần không xa”. Hoá ra “cái xa” địa lý giữa con người thì không đáng lo ngại, mà “cái xa” tình cảm, sự bất đắc ý tâm giao mới là đáng sợ nhất. Một đúc kết về lẽ đối nhân thật sâu sắc và chí lý!…
     “Giọt nhũ”, tập thơ thứ 10 của nhà thơ Duy Phi, còn nhiều bài vào loại “thơ khó”: Ở Vị Xuyên, Hậu Thạch Sanh, Với chú tôm nhỏ...Một bài viết, đâu dễ đề cập hết. Thơ hay và hàm súc, là cảm nhận bao trùm sau khi đọc xong tập thơ “Giọt nhũ”. Thơ Duy Phi phảng phất toả sáng tư tưởng nhân văn của Nho học, Lão học, Phật học, hàm chứa nhiều tri thức lịch sử uyên bác, giọng thơ sang trọng, lịch lãm, chứa chan một tâm hồn lãng mạn, bay bổng. Xin chúc mừng anh. Tập thơ “Giọt nhũ”xứng đáng là một món quà quý gửi tới bạn hữu và đồng bào các dân tộc miền núi*

                                                                        7/6/2012
       
  * BÀI ĐÃ ĐĂNG BÁO BẮC GIANG, THỨ SÁU 15/6/2012  

VŨ HOÀNG NAM: MỘT THOÁNG HÀ GIANG...







NT VŨ HOÀNG NAM
(Ảnh chụp trong Dinh vua Mèo-
Đồng Văn, Hà Giang 2/6/2012)  




NT Vũ Hoàng Nam. Hiện ở tại Đồng Tâm- Yên Thế-  Bắc Giang. Hội viên Hội Văn học Nghệ thuật tỉnh Bắc Giang. Tác phẩm đã xuất bản: * Lặng lẽ với mình, thơ- NXB Hội Nhà văn- 2004 * Hành trình của giọt nước- Truyện thiếu nhi- NXB VHDT- 2009



MỘT THOÁNG
HÀ GIANG


Không đá ai gọi Hà Giang
Mèn mén, rượu ngô
                   thơm lừng vách núi
Chợ Khâu Vai
Hẹn ngày cùng tới
Uống tình nhau
Xin cứ thỏa thê.

Rồi chia tay non cao ấy bạn về
Bước vào mưa vào nắng
Bước vào mây vào gió
Bước vào trập trùng đá núi
Bước vào thương nhớ một người.

Và điệu khèn như có mắt mình ơi!
Bay qua Mã Pì Lèng
Gửi về nơi ấy
Dịu dàng mơn man Núi Đôi

Có một Hà Giang trong tôi!

                               6-2012


                          







Ở ĐỘ CAO
HƠN MỘT NGHÌN MÉT

Ở độ cao hơn một nghìn mét
Đá cùng người lăn lóc
Nắng gió thì nhiều mà thiếu từng hạt đất
Giọt mồ hôi mặn hơn.

Hơn một nghìn mét
Trời đất chông chênh
Đá chở che bầu bạn.
Cây ngô là niềm hy vọng
Bám vào lưng chừng trời.

Cái núm rau chôn hốc đá bao đời
Thành Mèo Vạc, Đồng Văn, Lũng Cú.
Đá gửi tình vào sông Nho Quế
Sinh sôi
Chiến lũy trường thành.

                                   6-2012
                            





             
 LỘC BIẾC

Tay em vin nhánh xuân này
Đã nghe lộc biếc dâng đầy mắt anh
Lạy giời cho lá cứ xanh
Mưa buông tơ nhẹ cho mình bên nhau
Vin cành chẳng thấy lộc đâu
Buồn tay chạm phải
                       mái đầu nghiêng nghiêng
Trách mình sao khéo vô duyên
Lâng lâng ánh mắt nỗi niềm khát khao.

Trời thì rộng, đất thì cao
Thế gian chẳng có lộc nào bằng em.

                                         V.H.N

Thứ Tư, 13 tháng 6, 2012

THƠ VŨ TỪ TRANG: TÍCH TẮC, VỀ LẠI PHỐ TRÀNG...







NT VŨ TỪ TRANG


 Nhà thơ Vũ Từ Trang quê Từ Sơn, Bắc Ninh. Hiện ở Hà Nội. Hội viên Hội Nhà văn Việt Nam. Đã xuất bản các tập thơ: Nắng lên cao (In chung), Thời trai trẻ, Ngược dốc... & Một số cuốn tiểu thuyết, khảo cứu...



TÍCH TẮC

   Tích tắc, tích tắc
đồng hồ nhắc
thời khắc qua.

Giữa chu kỳ tích tắc
là nắng mưa
là nóng là rét
là tuổi thơ tuổi già
là nụ hôn ấm và bàn tay chia xa
thời gian cứ lặng thầm tích tắc.

Quốc gia này dựng xây, lãnh thổ kia đập phá
chiến tranh tây bán cầu, hòa bình nam bán cầu
chỗ này mở liên hoan, chỗ kia cãi vã
những quả bom và xác người máu đổ
hoa cúc vàng hoang vắng nghĩa trang
bong bóng xà phòng trên tay mong manh.

 Chẳng sức mạnh nào  kìm hãm được
điệp khúc thô sơ tích tắc nhọc nhằn
những sợi tóc bạc trong ý nghĩ
cây cỏ thiên nhiên vất vả đơm mầm.








Ý nghĩ muôn đời “tình yêu bất tử có thể làm ra mọi thứ”
nhưng  sao làm ra được thời gian
làm sao đổi được chu kỳ tích tắc
trái tim run  nhip đập cũ mèm.


                          VỀ LẠI PHỐ TRÀNG

Đồng đất qua bao vụ cấy cày
cây vẫn xanh như ngày mẹ cha tôi ở đấy
nhà mới nhiều hơn, giọng nói khác hơn
nhưng kỷ niệm trong tôi không đổi khác.


Kim phút kim giờ  đứng yên. Chiếc đồng hồ đứt cót
tích tắc vẫn kêu xáo động trong tôi
bao nhớ thương không về được nữa
bóng mẹ cha thăm thẳm chân đồi.


Tuổi lên ba, hay là lên bốn ?
gót chân tung tăng mặc bom đạn nổ rền
cậu mợ tôi và dân làng che chở
trống ếch khua  vang một thưở phố Tràng.


Tôi không dám đụng vào chiếc đồng hồ đứt cót
không dám khỏa tay ao làng in bóng mây trôi
tôi sợ  bóng hình mẹ cha tôi tan biến
ngày chưa qua, đêm đã thẳm sao trời.
                                                          
                                          11-2008
  
TỰA

Buổi chiều
em ngồi tựa vào tôi
tôi tựa vào cây rừng
cây rừng tựa vào bóng râm.

Tôi muốn nói với em
một điều
mà lá cây run
                    nên thôi không nói.
 
Rồi tôi lại đi trên con đường dài
bằng sức lực em tựa vào tôi
và em lại trôi chấp chới phận đời
sau lưng chập chờn lá đợi.

  
TƠ TRỜI NĂM ẤY
 
Thế là người bỏ quê đi
để lại ngôi chùa trầm mặc.

Chùa vẫn nghiêng nghiêng tháp bút
tam bảo quan âm trầm tư
nghìn mắt nghìn tay bất lực.

 Bãi dâu đỏ ngầu  con sóng
đò nan sang sông một mình
giữa dòng, sao phân vân mãi ?
đò chìm trong tiếng chuông ngân.
 
Sư thầy đi đâu chẳng thấy
chỉ thấy cỏ rờn chân đê
tơ trời cùng tôi năm ấy
lơ ngơ quên cả lối về.











Ở CAO NGUYÊN ĐÁ 


Bàn chân trần đi trên đá sắc đau không ?
không dám hỏi
thịt da ai, cũng thịt da người
chân cứng đá mềm
                              chân mềm đá cứng
cao nguyên âm u đá cứa trăm năm.


Chân xéo đá đi tìm hạt thóc
hạt thóc mong manh nặng hơn hạt ngô
hạt ngô khe đá là hạt ngô lép
bàn chân người vốn ưa giày dép
giày dép nơi đây có đâu mà đi!

Mẹ già còng lưng gùi nước lên nương
mẹ lầm lũi đi, nghìn năm đá dựng
cháu bé lũn tũn học chữ đá dốc
đá sắc hơn dao, bàn chân giật thót
con chữ chênh vênh ùa mây cổ tích
gió đá hoang vu rút buốt ruột người.

 Giá đổi cho ta con đường cỏ mượt
bàn chân nứt nẻ quen gì dịu êm?
kiếp mẹ kiếp cha vật vã trên đá
đường đá chông chênh ta lại khát thèm.

                                           V.T.T