Trích : Chữ chạy, cỡ chữ=20

Nguyệt xuyên há dễ thâu lòng trúc / Nước chảy âu khôn xiết bóng non - NGUYỄN TRÃI

Thứ Bảy, 14 tháng 7, 2012

NT TRỌNG KHÁNH & BÀI THƠ NGƯỜI ĐÁNH TRỐNG TRƯỜNG









NT TRỌNG KHÁNH 
(1949 - 2012)




 Nhà thơ - Nhà giáo ưu tú Nguyễn Trọng Khánh sinh năm 1949, vừa ra đi (13/7/2012) ở tuổi 64 sau một căn bệnh trọng.
Quê: Bao Hàm, Thụy Hà, Thái Thụy, Thái Bình. Cử nhân Hoá học, nhiều năm  dạy tại các trường Cao đẳng Sư phạm Kiên Giang, trường Lê Quý Đôn, trường chuyên Thái Bình. Hội viên Hội Nhà văn Việt Nam, HV Hội VHNT Thái Bình. 
Đã xuất bản 7 tập thơ: * Bụi phấn hương tay, 1990) * Huyền thoại đền Đồng Bằng, 1993 * Mưa, 1995 * Nắng vào thu, 2003 * Hoa đồng tièn đêm, 2005 * Bụi phấn ném vào đêm,  2008… 
   Duy Phi tôi có được Nhà thơ Trọng Khánh tặng một số tập thơ. Nhớ, luyến tiếc tài hoa, sự chân tình, đôn hậu của ông, ĐTM trân trọng giới thiệu chùm thơ ông, như nén nhang tưởng niệm…   


KHÔNG ĐỀ I

Mẹ tôi già ăn mày nơi cửa Phật
Bác tôi cầu Chúa cứu rỗi linh hồn 
Còn tôi ăn mày
Ở kẻ ăn mày một chút lương tâm. 

KHÔNG ĐỀ II

Đến một lúc chạm vào nhau
                   cũng không còn cảm xúc
Người yêu ơi khi ấy có buồn không
Ở đời ai cũng có thời yêu nhau hừng hực
Và sau rồi nhấm nháp nỗi cô đơn. 
  
KHÔNG ĐỀ III

Anh bị ngày đẩy vào chiều
Anh bị chiều đẩy vào đêm
Anh bị đêm đẩy vào em
Anh bị em đẩy vào thơ... 

MIỀN QUÊ THÁNG SÁU

Tháng sáu
Chân đen dận thuốc
Đội phên chạy cơn mưa rào
Chuồn chuồn bay thấp
Mưa ngập cầu ao
Chuồn chuồn bay cao
Con cá rô róc
Có người say thuốc làng Bao
Theo anh về tận Ngõ Cầu rửa chân
Con tằm vàng trong nong
Con ngài hóa bướm
Bay đi kéo tơ qua làng
Đường cát sao em vội vàng
Đợi anh gửi mớ khoai lang biếu thày
Nhớ ngày rạm nổi
Em về trẩy hội đình Tây
Đầu thôn Hổ Đội
Gặp người đội nón không quai
Cuối thôn Trình Trại
Gặp em le te gánh đôi vỉ quài
Đất mình hành tía
Củ bằng bình vôi
Rọc xanh trẻ nhỏ thổi còi gọi nhau
Anh bắt đỉa đầm sâu
Xoa bàn tay vôi trắng
Em cấy ruộng đầu ngòi
Chân bùn đen, xà cạp
Lúa xuân lên em đẹp
Hội làng dào dạt trống cơm
Thằng Cuội đùa với thằng Bờm
Hằng Nga gọi mãi giận hờn nằm riêng
Những chuyện thần tiên
Toàn những chuyện thần tiên
Làng xưa vẫn đấy, nay tên khác rồi
Người đi chợ ăn đứng
Người đi cấy ăn ngồi
Con cò áo trắng, con người áo nâu
Lại con trâu
Vẫn con trâu
Đời mày kéo cả đời tao trên đồng
Da em trắng
Má em hồng
Mẹ già lại vẫn lưng còng đội mưa
Tháng sáu ngày xưa
Tháng sáu bây giờ
Đợi nhau bóng nắng tròn vo chân ngày
Em nhìn vào hai bàn tay
Cơn mưa thuở ấy còn đầy lòng nhau
Anh nâng cánh áo bạc màu
Vải diềm bâu nhuộm nước nâu quê mình.









NGƯỜI ĐÁNH
TRỐNG TRƯỜNG  

Tiếng trống vang lên
Không gian nào cũng chật
Và thời gian chìm đi trong khoảnh khắc
Học trò các nơi
Ùa vào lớp học
Mặt trống rung lên
Những dãy nhà
Im phăng phắc
Giọng thầy giáo già
Tiếng khoan tiếng nhặt
Câu dân ca
Dào dạt lòng người
Dùi trống gầy đi
Qua tiếng tùng, tiếng cắc đổ hồi

Cánh hoa phượng nở hồng đầu mùa Hạ
Khi tang trống dục cây thay màu lá
Một bài toán khó giải cho đời
Người đánh trống trường tôi
Gân săn sợi mây
Đuôi mắt cười qua mỗi lần thay mặt trống
Chiếc dăm tre căng phần da mỏng
Để âm thanh cuộc sống chất đầy
Mùa hanh tiếng đanh nhức tay
Mùa nồm tiếng chìm mỏi bắp
Ngày buồn tiếng tròn rõ nhịp
Ngày vui tiếng nổ bung trời

Người đánh trống trường tôi
Tóc bạc, già rồi
Tiếng trống vẫn giòn như thời trai trẻ
Nhịp vẫn đều và âm thanh vẫn khoẻ
Như tiếng cười
Của lứa tuổi mười lăm.

Người đánh trống trường tôi
Cả cuộc đời
Gửi vào âm vang
Như trái tim
Thình thình nhịp đập.

(Giải nhất cuộc thi của báo Giáo dục & Thời đại)


Thứ Sáu, 13 tháng 7, 2012

TS NGUYỄN VĂN HOA - DỊCH THƠ ĐỨC









TS NGUYỄN VĂN HOA
(Quê Tháp Dương, Lương Tài, Bắc Ninh)
DỊCH THƠ ĐỨC  

Am Meer

Kinderreim

Mein ist ein kleinwinziges Häuschen,
ein winzigkleines Haus,
ein winzigkleines Haus,
mein ist ein kleinwinziges Häuschen,
vor der Tür macht der Wind ein Gebraus.

Öffne ein kleinwinziges Spältchen,

einen winzigkleinen Spalt,
einen winzigkleinen Spalt,
öffne ein kleinwinziges Spältchen,
laß mich sehn, wie das Meer heranprallt.
Autor unbekannt

           
         CHÒI BIỂN 
                    
( Đồng dao Đức)
Nguyễn Văn Hoa dịch

 Chòi biển bé nhỏ
Chính đó nhà tôi
    Chiếc nôi hứng gió
Cửa ngó biển khơi
Tả tơi vật vã
Biển cả sục sôi
Như tôi quật quã.








Ludwig Amandus Bauer

Du fröhliche, selige Frühlingszeit


Die Ströme rauschen und schwellendurchs maiengrüne  Tal,
es sucht mit den Äuglein, den hellen 
die Blüten  der Sonne Strahl  .

Die Lerchen, sie jubeln  weit  und breit :

o du fröhliche, selige Frühlingszeit!
Ich steh' im grünen Haine
beim stillen Jägerhaus 
da schau'n im Frührotscheine 
zwei dunkle Augen heraus, 
die leuchten  und sagen mit süßem Leid:
o du fröhliche, selige Frühlingszeit!

Ich steh' in süßen Träumen
im maiengrünen Land,
da schimmert  zwischen den Bäumen
hervor ein weißes Gewand. 
Nun ruht mir am Herzen die süße Maid 
o du fröhliche, selige Frühlingszeit!

Xuân vui
của
Ludwwig mndus Buer
Nguyễn Văn Hoa dịch

Nước sông róc rách dâng tràn
Cỏ xanh thung lũng lan man xuân về
Hoa tươi tắm nắng thỏa thuê
Sơn ca lảnh lót si mê đất trời
Lều săn hoang vắng không người
Có cô sơn nữ nói cười hân hoan
Cánh rừng lộc biếc nắng tan
Tim ta thổn thức vô vàn xuân ơi!





HẠ VÀNG



Sommer



Die Sonne steigt höher auf im Nu,
Sommersprossen nehmen zu,
Schwalben zwitschern in den Lüften,
die Natur schwelgt dazu in 1000 Düften.

Und schon röten sich die Beeren,

bald sind sie reif und zum Verzehren.
Die Linden stehen in voller Blüte:
Honig wird´s geben in bester Güte.

Bienen fleißig am Nektar tragen,

bald haben sie voll ihre Waben.
An Tomaten und anderen Gaben.
kannst du Dich im Garten laben.

Jetzt wird in den
Urlaub gefahren,
wie schon in allen anderen Jahren.
Den Einen zieht es an die See,
der Andre jodelt vom Berge: „Juche“.

Fernreisen sind leider Mode geworden,

etliche fliegen gar auf die Azoren.
Muss es immer ganz so weit sein?
Schön ist es doch auch Daheim!

 

 

Mùa hạ

của
Lydia Radestock BRD

Nguyễn Văn Hoa dịch


Mặt trời mọc lên cao hơn trong nháy mắt
Tàn hương mùa hè vung vãi khắp nơi 
Bầy én kêu ríu ran đan  trên trời
Thinh không tràn hương thơm tuyệt vời
Và quả chín mọng nhuộm đỏ cả trời
Tòng teng uốn éo   chín nũn sắp rơi
Rặng bồ chi chit hoa tươi
Sẽ cho mật ong tốt nhất cho người
Đàn ong bám vào hút mật
đen đặc cả trời
Chẳng mấy chốc tổ ong
 phổng phao lên như phép lạ cho đời 
Vườn nhà bạn mơn mởn
 cà chua và rau củ tươi
Mùa nghỉ hè khắp nơi
rậm rịch bước chân người
Và cũng như mọi năm đi chơi
Lũ lượt kéo nhau ra biển khơi
Còn số khác đồng thanh “ hoan  hô “
Leo núi chót vót chọc trời
Đi xa tiếc rằng lại trở thành mốt thịnh hành
Một số người bay tận đến Azoren
 Phải mãi mãi hoàn toàn
lạ lẫm xa vời ?
Đẹp đẽ nó đã thân thuộc
với nhiều người.




Thứ Năm, 12 tháng 7, 2012

NT ĐỒNG THỊ CHÚC THĂM QUÊ BẮC GIANG





BÌA TẬP THƠ ĐẦU TAY
CỦA ĐỒNG THỊ CHÚC- 1992





CUỘC GẶP
NỮ SĨ ĐỒNG THỊ CHÚC






TỪ TRÁI:
NHẠC SĨ TUẤN KHƯƠNG - CHỦ TỊCH HỘI
& NHÀ THƠ ĐỒNG THỊ CHÚC 


Đúng hẹn, sáng ngày 12/7/2012, từ Hà Nội, nữ sĩ Đồng Thị Chúc đã về thăm mấy anh Văn nghệ Bắc Giang. Đồng Thị Chúc quê Tân Yên, Bắc Giang, đã xuất bản 2 tập thơ:
* Gót chân trần (NXB Thanh Niên- 1992)
* Lục bát dâng tặng người xưa (NXB Hội Nhà văn, 1- 2012).                     






DUY PHI TÔI ẨN MÌNH TRONG BÓNG TỐI
& NỤ CƯỜI TƯƠI TẮN CỦA NT ĐỒNG THỊ CHÚC




  
Nhà thơ Nguyễn Trọng Tạo có viết về Đồng Thị Chúc:
“Điều làm tôi chú ý về người thơ chân quê này là chị chỉ sống ở quê không nhiều. Hết tuổi học phổ thông, chị đã được đi du học nước ngoài và trở thành kỹ sư từ Đại học công nghiệp Kim Sách, thủ đô Bình Nhưỡng. Trở về nước chị được điều vào quân đội, phục vụ việc xây dựng lăng Bác, rồi chuyển ra công tác tại Viện Đo lường Quốc gia cho đến khi nghỉ hưu. Mấy dòng “trích ngang” đó như không liên quan lắm đến thơ chị trong tập thơ đầy “riêng tư” này. Vâng, có lẽ chị chỉ thường làm thơ khi có những cảm xúc thầm kín day dứt, ám ảnh mình. Và vì vậy thơ chị như một “âm bản của nước mắt” cuộc đời cùng những ám ảnh ấu thơ”…
“Đó là thơ về tình yêu ban đầu, về tình đơn phương, về “người xưa”. Đó là thơ viếng vọng bạn trai, thơ “ru người về hưu”, thơ “về miền nắng gió” và thơ “tự bạch”. Thực ra thì thơ của Đồng Thị Chúc đều là thơ tự bạch của lòng mình, một tấm lòng chân thật, giản dị và nhiều mộng mơ, lãng mạn. Nhưng đọc bài “Tự bạch” ta thấy đường đời của chị cũng lắm dốc đèo và nhiều biến cải. Nhưng rồi chị cũng đã vượt qua được tất cả cùng với những mơ ước bình thường của những thân phận bé mọn trong cuộc sống. Vì vậy mà “Tự bạch” của chị lại chia sẻ được với nhiều người cùng phận…”




NHÀ THƠ ĐỒNG THỊ CHÚC
      NHÀ VĂN TRẺ MAI PHƯƠNG (TẠP CHÍ SÔNG THƯƠNG)
NHIỀU CHUYỆN TÂM GIAO 
   

   Cuộc gặp là ngẫu hứng, nhưng cũng may, rất vui: có nhà văn Đặng Tiến Huy, nguyên Q Chủ tịch Hội… , nhạc sĩ Tuấn Khương - Chủ tịch Hội,  Mr Hà Quang - Chánh Văn phòng, các nhà văn nhà thơ: Tô Hoàn, Vũ Từ Sơn, Mai Phương và Duy Phi tôi. Hội VHNT Bắc Giang đã in thơ ĐTC trên nhiều tuyển thơ: Thơ Bắc Giang thế kỷ XX, Sắc núi ngàn năm… Đây là cuộc gặp đầu tiên, mọi người đều rất cảm động. ĐTM từng có trang thơ Đồng Thị Chúc, nay giới thiệu 5 bài, trong đó có bài ĐTC ứng tác ngay bên chén rượu, trưa 12/7/2012 tại Khách sạn Hữu nghị, TP Bắc Giang.



   NGÀY VỀ
            
                    Thơ ứng khẩu, đọc trong cuộc gặp 
                với Văn nghệ sĩ Bắc Giang -12/7/2012 


Tôi về giữa lúc nắng trưa
Nắng thì nắng gắt
                      mà mưa trong lòng
Bao năm cứ mải đi vòng
Để nay
        được chút thong dong tôi về…

                
NGHI VẤN

Có phải lúc này anh nhớ em –
Ánh đèn chao chác sáng trong đêm
Tiết thu se lạnh đìu hiu gió
Một dáng anh ngồi bóng đổ nghiêng?  

BẤT CHỢT

                          Thân tặng H D

Em nhổ từng sợi tóc sâu
Thì thầm nói anh bạc đầu vì em

Bàng hoàng anh ngước nhìn lên
Nhận ra em, nhận ra thêm… lần đầu.

                                     10/ 1989 




 NHỮNG CHỮ KÝ KỶ NIỆM 
TRÊN TRANG ĐẦU
CÁC TUYỂN THƠ ĐỒNG THỊ CHÚC CÓ BÀI:
* THƠ BẮC GIANG THẾ KỶ XX
 * SẮC NÚI NGÀN NĂM...












  
CẢM XÚC NÚI ĐÔI

           Kính tặng anh Vũ Cao

Núi Đôi thuở trẻ tôi ngâm
Bao lần nước mắt ướt đầm hàng mi
Nghe đây đây tiếng thầm thì
Anh trai làng ấy nói khi trở về.

Tình yêu ơi ! Có bao giờ
Mà người đã mất vẫn ngờ còn đây?
Muốn cho lòng đất bớt dầy
Để người trong ấy, ngoài này bớt xa.

Để anh tới, để người ra
Để lối sườn núi lại ta đi về…
Núi Đôi, hai ngọn liền kề 
Xin cơn BÌNH ĐỊA đổ về nơi đây.


ĐƠN PHƯƠNG

Cái thời người ấy trong tôi
Một ngày không gặp đứng ngồi không yên
Biết là mình quá vô duyên
Gió đằng lưng cứ ngang nhiên đập vào *
Người dưng ơi khổ làm sao
Càng giơ tay gạt càng dào dạt mong
Ngước trông bảy sắc cầu vồng
Thắm màu người nhạt rực hồng một ta

Đêm đêm những oán trăng già
Chẳng soi cho tỏ tình ta với người
Thế rồi người ấy mù khơi
Thế rồi ta cũng thành người bến xa
Ngày đi qua tháng đi qua
Nỗi xưa chỉ thoáng cơn mưa chợt về.

Cái ngày gặp lại bây giờ
Thấy thương thấy trách dại khờ. Đơn phương.

                                                      

------
Gió sao gió đánh đằng lưng
    Dạ sao dạ nhớ người dưng thế này (Ca dao).


Thứ Ba, 10 tháng 7, 2012

TỪ HAI PHÍA CỔNG TRỜI/ DUY PHI







ĐOÀN VĂN NGHỆ SĨ BẮC GIANG
MÃ PÌ LÈNG 3/6/2912





TỪ HAI PHÍA
CỔNG TRỜI  
                        DUY PHI
                                               

    Có một chiều nghỉ ở khách sạn Khải Hoàn- Đồng Văn, chúng tôi rủ nhau dạo phố. Tất cả năm người. Trên hè phố, có nhiều cây đào, trong những nhành lá xanh biếc lấp ló quả xanh quả chín. Chợt nhớ những ngày ở Singapore, nếu ai đó chỉ vặt một cái hoa cái lá cũng bị phạt 500 đôla, trên phố Đồng Văn này, tôi muốn hái đào lắm mà không dám hái. Thấy một hàng bán chè hương bưởi trên vỉa hè, Tô Hoàn rủ vào thưởng thức. Chủ quán là một thanh niên khôi ngô, mảnh khảnh. Đào ở mấy cây kia hái được không cậu? Ai hái thì hái, các chú ạ! Để cháu hái cho các chú mấy quả nhé! Cây đào này, gần quán, người ta vặt nhiều. Vừa nói, anh chàng vừa trèo lên cây, như khuất trong vòm lá. Hỏi ra, chủ quán là Nguyễn Thế Hiểu. Thoắt, Hiểu đã mang xuống một nắm đào. Cậu rửa cẩn thận rồi bày lên đĩa. Tân Quảng, Trần Hồng Minh, Tô Hoàn, Vũ Từ Sơn và tôi, mỗi người mỗi quả. Đào xanh, còn chát. Để cháu về trẩy cho các chú mấy quả. Đó là tiếng nói của một cô gái ngồi bàn bên. Ngay từ lúc vào, tôi đã thấy dưới chiếc ô (dù) lớn - loại ô có thể che mưa nắng cho cả chục người, quanh một bàn nhỏ có mấy cô gái, cứ ngỡ thiếu nhi cả, không ngờ, toàn thiếu nữ. Cô gái vừa lên tiếng, khá xinh xắn, ra lấy chiếc xe máy vút đi, một thoáng đã mang lại một túi đào. Sau, chúng tôi mới biết, đó là Mồng Thị Mai Hương. Rửa đào, lấy dao bổ thành từng miếng như bổ cau. Mai Hương nói, hôm nay ít quả chín. Chúng tôi được nếm những miếng đào ngọt lạ.
   Mai Hương, dân tộc Nùng, người Bắc Quang, đại học luật tại chức, đang công tác ở cơ quan Thi hành án của huyện.
   Đồng Văn ơi! Thật lạ, thời nay, trên phố vẫn còn những dãy đào ai hái thì hái. Lại có cô gái, tự nguyện, lên xe máy về cơ quan, hái đào mời chúng tôi như những người thân thuộc.
   Mai Hương có việc phải đi. Chúng tôi hỏi thêm Hiểu. Chàng trai này sinh năm 1986, bố quê Đông Hưng Thái Bình, mẹ ở Khoái Châu, Hưng Yên. Bố mẹ cháu chia tay khi cháu còn trong bụng mẹ. Gia đình khó khăn, mẹ cháu luôn đau yếu, cháu phải tự lập từ nhỏ, đã vào Sài Gòn đánh giày. Một bà bán chè bông bưởi quý cháu như con, tên là bà Loan Đồng Tháp, bà dạy cháu cách làm chè bông bưởi. Cháu thôi đánh giày, bán chè từ đấy. Bây giờ, ngày nào cũng vậy, sáng cháu đi chợ bán điện thoại di động, chiều bán chè. Bàn cờ này ai đánh? Cờ thế đó chú ạ! Cháu có những thế cờ, ai vào đánh ngồi phía nào cũng chỉ có thua. Cháu lên đây một mình, đã tám năm. Có khi đi hai ba năm mới về quê một lần. Có vợ chưa? Cháu chưa. Nhà ở thì các chú trong Bưu điện thương, cho thuê giá rẻ… Cũng là phiêu dạt, nhưng Hiểu không sa vào đám bụi, thể hiện là một thanh niên thông minh, có chí, có có bản lĩnh. Cô gái nào có được người chồng như Hiểu thì yên tâm lắm.
    Vừa chuyện trò vừa ngắm phố, bỗng tôi nghe thấy tiếng “Huầy! Huầy!”, tiếng roi vút, tiếng rậm rịch và tiếng lục lạc ở cổ trâu vang lên. Một chàng trai, ăn mặc màu đen đồng phục, hẳn là người Mông rồi. Con trâu lấm và anh chàng cũng lấm. Mặt mũi mồ hôi,  nhiều nắng gió. Thúc trâu đi giữa phố mà như đi vào chỗ không người. Không nhìn ai, dáng đăm chiêu, vội vã. Người và trâu huỳnh huỵch trên phố. Một nét thật Đồng Văn, thật phố cổ. 




THIẾU NỮ DAO 

 
   Bọn tôi đứng lên đi dạo, ngắm những ngôi nhà cổ, tường trình đất, lợp ngói âm dương. Đi dọc theo phố, tôi mê mải ngắm mấy bụi xương rồng hoa đỏ trên những bức tường xếp bằng đá. Chợt nhận ra một loại hoa mới, nở thành chùm, màu trắng, thoáng hương, tôi hỏi một thiếu phụ. Cô n ói, đó là cây bướm ngả. Cô tên là Ái, gốc Ninh Bình, lên đây dạy Tiểu học. Không lẽ hỏi đi hỏi lại. Tôi chợt nhớ, bên suối trong rừng thường rất nhiều cây hoa bướm. Những khóm cây đứng, nở xoè hoa trắng. Mỗi làn gió, cả đám hoa rung lên như muôn vàn những cánh bướm dập dờn. Loài cây bướm ấy, lá liền một phiến. Còn cây hoa bướm này khác, lá hình tim rất giống lá cây hoa ban Tây Bắc, giống lá dây móng bò bên lán Bộ Chỉ huy Miền trong rừng Tà Thiết- Đông Nam Bộ. Gọi là cây bướm ngả bởi các nhành mềm, dày nặng lá, trĩu xuống. Tôi phải bíu đá trèo lên mới ghi hình được mấy chùm hoa…
   Khi nhảy xuống thì chỉ còn Hồng Minh đang đợi. Hai chúng tôi cứ dọc theo phố. Bỗng thấy có tiếng Tân Quảng trong một nhà gần đó. Thì ra, thấy cổng nhà người ta có khóm hoa tường vi, cánh cổng có chạm khắc như hình mặt trống đồng, trên nóc cổng giữa đỉnh có hình một chiếc đầu trâu, hai sừng chĩa ra, cong vút, mấy “ông tướng” nhà ta: Tô Hoàn, Vũ Từ Sơn, Tân Quảng, cứ thế kéo vào sân - một đoàn khách lạ hoắc, không mời mà đến. Hồng Minh và tôi kịp thời bổ sung vào đoàn. Ông chủ dáng đạo mạo, vẻ ung dung đôn hậu, niềm nở, mến khách. Được đà, tự khai và hỏi tới tấp. Ông chủ pha trà. Bà chủ cũng xuất hiện chào mời. Thật lạ, đoàn này có duyên, gặp được người muốn gặp. Ông là Nguyễn Thế Đường, sinh năm Mậu Dần- 1938, dân tộc Tày, làm nguyên Bí thư Huyện uỷ Đồng Văn mười một năm (1986- 1996). Sau đấy, ông được điều lên làm trưởng Ban Dân vận tỉnh Hà Giang… Thân sinh ông Đường là cụ Nguyễn Quang Đạm, từng làm Trưởng ty Văn hoá Hà Giang, một lần được đón Bác Hồ và đ ược chụp ảnh với Bác. Bức ảnh Trưởng ty Đạm bên Bác Hồ đã được phóng to, treo gian giữa, nơi trang trọng nhất. Tôi nói thêm, trong đoàn này có mấy anh là hội viên Hội Văn học Nghệ thuật các Dân tộc Thiểu số Việt Nam, Chủ tịch Hội nay là nhạc sĩ Nông Quốc Bình… Ông Đường đều biết cả. Chủ khách đã hoà làm một. Hỏi thêm về con cái, sự học hành của các cháu, chúng tôi biết thêm: ông Đường có con trai là Nguyễn Văn Tuệ, Bí thư Huyện uỷ Quang Bình vừa chuyển về làm Giám đốc Sở Thông tin Truyền thông tỉnh Hà Giang. Ông Tuệ có ba con đại học, hai nữ: Nhài, Kinh tế quốc dân, Nhâm, Ngân hàng; nam: Mạnh, Công an.
  Ông Đường còn kể: cột cờ Lũng Cú mới được xây đẹp thế, hồi ông còn là Bí thư Huyện, năm 1986, lúc đó còn đơn sơ lắm, ông cho người đi tìm, được một cây sa mu cao 16 met, dựng làm cột cờ. Lá cờ ngày ấy còn nhỏ. Nay lá cờ rộng 54 met vuông.     
   Lúc ra sân, nhìn núi non xung quanh, nhà thơ Tân Quảng bảo, thế phong thủy của nhà ông Đường cực đẹp, tựa sơn, có thanh long bạch hổ, phía đông có ngọn núi nhọn vươn lên như trụ biểu. 
     Ở vùng xuôi, nghe hai tiếng vua Mèo là kinh lắm. Vua Mèo Vương Chí Sình (1985- 1962), tức Vương Chí Thành, từ nhỏ, ông đã được học hành cẩn thận, học chữ Hán, học chữ Pháp. Tính cách độc lập tự chủ của ông rất cao, thời Tưởng không theo Tưởng thời Pháp không theo Pháp. Sau cách mạng tháng Tám 1945, ông theo cách mạng theo Bác Hồ. Tuần lễ vàng, do Bác Hồ kêu gọi, vua Mèo Vương Chí Sình đã hiến cho Nhà nước mới 22 000 000 đồng bạc trắng hoa xoè và 9 kg vàng. Vương Chí Sình là Đại biểu Quốc hội Nhà nước mới hai khoá, sau trở lại Đồng Văn, làm chủ tịch huyện… Ông Chí Sình làm việc rất nền nếp, phong độ, được lòng nhiều dân bản. 



MÃ PÌ LÈNG 


 Mã Pì Lèng con đèo chừng 20 cây số, thuộc ba xã: Pải Lủng, Pả Vi, Xín Cái, huyện Mèo Vạc do vết đứt gãy của đợt tạo sơn cách đây 32 triệu năm vách đá cao bảy trăm mét, dựng đứng 90 độ  làm 6 năm, hai vạn thanh niên, trên hai triệu ngày công. Hồi thi công, phải dè sẻn, nhường nhịn từng ngum nước. Ngày hè đổ lửa, 12 người được một xô nước, đục đá làm đường cả tuần mới được một ngày đi tắm đi từ sáng đến trưa tới sông Nho Quế, tắm xong, buổi chiều để về, lại như chưa tắm!!!   Nhớ những thanh niên trong đội cảm tử, leo vách núi đục đá tra mìn, ngay phía dưới, không xa để sắn mười chiếc quan tài.
   Thời đang phá đá mở đèo, nhà thơ Xuân Diệu lên thăm, có thơ để lại: 
Đá nhỏ bắt đầu rơi lộp bộp
Sau lôi đá lớn đổ ầm ầm
Trần Đăng Khoa viết”Cái thực tế rất cụ thể rất chính xác như thế này không phải là thơ”. Một số Thanh niên xung phong hồi đó, còn quả quyết, Xuân Diệu còn ứng khẩu đọc thơ trên đèo Mã Pì Lèng: 
Ôi, Mã Pì Lèng trăm gian nghìn khó
Chín tháng treo thân, vạt núi ngang trời
Khát cháy cổ, nhường nhau từng ngụm nước
Nắm cơm nào từ trăm thước câu lên…
Nguyễn Hải Trừng:
Mây đạp dưới chân trời đụng trán
Đường Thục, Mã Pì Lèng, đâu hiểm hơn?
Những câu thơ na ná như thơ cổ điển Trung Hoa, còn lấy thành ngữ bên ấy để so sánh nữa.
   Trong một bút ký, Đỗ Doãn Hoàng than”Đi thực tế rồi, các nghệ sĩ vĩ đại của chúng ta cũng không thai nghén được tác phẩm nào xứng tầm”.
  Cuộc sống của người Mông và các dân tộc ở đây đã nhiều thay đổi. Ở xã Tả Phìn, Đồng Văn, tôi có dịp trò chuyện với một già bản. Ông bảo, chúng tôi không bao giờ theo “họ”, nghìn đời vẫn thế. Tôi nghĩ đến 22 đồng bào dân tộc nơi đây: Mông, Tày, Kinh, Dao, Lô Lô, La Chí, Pà Thẻn… , sống trên đá, những ý chí sắt đá, tận trung với nước, bám trụ…  Dân bản, nhiều chuyện còn lơ mơ, nhưng ai cũng biết Bác Hồ, ơn Bác Hồ.  Lên Hà Giang lần đầu, năm 1998, tôi có gặp nhà thơ Hùng Đình Qúy, dân tộc Mông, hội viên Hội Nhà văn Việt Nam. Tôi còn nhớ mãi mấy câu thơ của anh, viết về miền Tào Dú: Tượng Bác Hồ/ Ở đó làm râm che trời nắng cả/ Từ nay Tào Dú mãi mãi như đoá hoa trên đá.
   Hà Giang đã bỏ được cây anh túc. Trong một bữa nhậu, một anh bạn nói: có rượu mới có bạn, càng say càng lắm bạn! Chợt nhớ các thi nhân xưa, nhiều người qúy bạn, tiếp bạn không bằng rượu: Ngoài cửa mừng người dầu cái vẹt/ Trong nhà thết khách mặc con cờ (Nguyễn Trãi), Đầu trò tiếp khách, trầu không có/ Bác đến chơi đây ta với ta (Nguyễn Khuyến). Nghèo, sống đạm bạc vậy mà ông cha ta đâu thiếu bạn. Lại nhớ, mấy nước quanh ta: Thái land, Malaysia, Singapore, du khách dẫu có đi cả ngày, qua hàng ngàn mâm cơm, cũng chẳng thấy mâm nào cụng ly, “Zô! Zô!”…
      Đêm, về thành phố Hà Giang bên núi Neo núi Cấm, được các bạn Hội Văn nghệ Hà Giang đón tiếp chu đáo. Đoàn chúng tôi do nhạc sĩ Tuấn Khương - Chủ tịch Hội dẫn đầu. Nhớ hôm mới đến, Hội Hà Giang cho mượn cả xe lẫn lái. Thật vui, chúng tôi được gặp các gương mặt Hà Giang, Chủ tịch Hội Bàn Thị Ba, nhà văn Trần Bé, nghệ sĩ ảnh Thanh Hiền, chánh văn phòng Liễu…    Mai Xa Hà Giang rồi, tôi lan man nghĩ đến những nương ngô treo khắp các sườn núi đá, nhớ chuyện nhà thơ Cao Xuân Thái kể ở trại sáng tác Tam Đảo năm nào, có khi bốn năm tháng cao nguyên đá không có mưa, rồi một ngày kia, nửa đêm mưa xuống, nhà nhà trong bản hò reo, gõ thau gõ chậu, rủ nhau đi tắm đi giặt đi hứng nước ăn nước uống. Mọi người hò hét vui như hội. Ôi, một cao nguyên đá- công viên địa chất toàn cầu, diện tích đên 2350 cây số vuông, với những vết đứt gãy cách nay vài triệu năm, đa dạng các loại thạch địa tầng, đa dạng cổ sinh vật học, còn dấu tích những tập hợp hoá thạch của Huệ biển, Trùng thoi, Cúc đá… Ôi, một Hà Giang bí ẩn và huyền thoại, một Hà Giang với những địa danh: Hoàng Su Phì, Vị Xuyên, chợ tình Khau Vai Mèo Vạc, Phố cổ Đồng Văn, Cổng Trời Quản Bạ, Đệ nhất hùng quan Mã Pì Lèng, Cột cờ Lũng Cú… Những địa danh mới xướng lên đã lay động tâm can sông núi.
       Đêm, về thành phố Hà Giang bên núi Neo núi Cấm, được các bạn Hội Văn nghệ Hà Giang đón tiếp chu đáo. Đoàn chúng tôi do nhạc sĩ Tuấn Khương - Chủ tịch Hội dẫn đầu. Nhớ hôm mới đến, Hội Hà Giang cho mượn cả xe lẫn lái. Thật vui, chúng tôi được gặp các gương mặt Hà Giang, Chủ tịch Hội Bàn Thị Ba, nhà văn Trần Bé, nghệ sĩ ảnh Thanh Hiền, chánh văn phòng Liễu…    Mai Xa Hà Giang rồi, tôi lan man nghĩ đến những nương ngô treo khắp các sườn núi đá, nhớ chuyện nhà thơ Cao Xuân Thái kể ở trại sáng tác Tam Đảo năm nào, có khi bốn năm tháng cao nguyên đá không có mưa, rồi một ngày kia, nửa đêm mưa xuống, nhà nhà trong bản hò reo, gõ thau gõ chậu, rủ nhau đi tắm đi giặt đi hứng nước ăn nước uống. Mọi người hò hét vui như hội. Ôi, một cao nguyên đá- công viên địa chất toàn cầu, diện tích đên 2350 cây số vuông, với những vết đứt gãy cách nay vài triệu năm, đa dạng các loại thạch địa tầng, đa dạng cổ sinh vật học, còn dấu tích những tập hợp hoá thạch của Huệ biển, Trùng thoi, Cúc đá… Ôi, một Hà Giang bí ẩn và huyền thoại, một Hà Giang với những địa danh: Hoàng Su Phì, Vị Xuyên, chợ tình Khau Vai Mèo Vạc, Phố cổ Đồng Văn, Cổng Trời Quản Bạ, Đệ nhất hùng quan Mã Pì Lèng, Cột cờ Lũng Cú… Những địa danh mới xướng lên đã lay động tâm can sông núi.
      Mai xa Hà Giang rồi! Về Đệ nhất hùng quan Mã Pì Lèng, không dám giấu sự vụng dại của mình, tôi có bài thơ sau: 

MÃ PÌ LÈNG


Mã Pì Lèng!
Vắt vẻo như tiếng khèn
Nghe Mã Pì Lèng tuổi đi học
Đầu bạc mới cao nguyên 
Xe qua Mèo Vạc không rượu chợ
Men nào đã ngấm mắt liêng biêng 
Mấy triệu năm, thi gan đá
Một gốc ngô thôi cũng diệu huyền.

Mã Pì Lèng!
Dốc xống mũi ngựa, đèo chết ngựa
Trước mặt non cao vai bật ngửa
Nho Quế dưới kia, hút mắt nhìn 
Nhớ bao chàng trai
Đội cảm tử
Treo mình vách đá
Khí xung thiên.  

Mã Pì Lèng! 
Kìa em gái Dao xòe váy đỏ
Ta mơ người đẹp hoa rong riềng
Tượng đá am con
Ai quỳ lạy  
Ngửa mặt ta vái
Trời đá thiêng

Mai về túp nhỏ
Thân khe cạn 
Mã Pì Lèng, Mã Pì Lèng ! …
                       
               Hà Giang- Bắc Giang 6- 2012
                                                                                     
                                  D.P
      

Thứ Hai, 9 tháng 7, 2012

THỦY HƯỚNG DƯƠNG/ NGHÊU NGAO MỘT MÌNH








 Nhà thơ trẻ 
THỦY HƯỚNG DƯƠNG





Nghêu ngao một mình
(THD tự chọn minh họa)  



NGHÊU NGAO 
MỘT MÌNH


Cỏ dại thường lấn đầy vườn
Cây nhiều quả ngọt sâu thường phá chơi

Diều căng gió vút lưng trời
Phận trâu thì phải có người dắt đi

Cuốc kêu gọi bạn lâm li
Bao giờ tìm được bạn về tri âm?


Sông kia những tưởng âm thầm
Ngờ đâu cuồn cuộn đá ngầm bên trong

Ngàn đời lúa vẫn xanh đồng
Thức mùa hạt vẫn trổ bông trĩu vàng

Lá sen biếc giữa ao làng
Cóc con vừa thoát đáy hang lên chào

Lắng nghe hoa lá xôn xao
Tự dưng ta thích nghêu ngao…
Một mình…


thủy hướng dương 
4.7.2012