Trích : Chữ chạy, cỡ chữ=20

Nguyệt xuyên há dễ thâu lòng trúc / Nước chảy âu khôn xiết bóng non - NGUYỄN TRÃI

Thứ Bảy, 11 tháng 2, 2012

ĐẾN SINGAPORE NHỚ CAO BÁ QUÁT * TẠP CHÍ THƠ




TẠP CHÍ  THƠ
HỘI NHÀ VĂN VIỆT NAM
SỐ 1 & 2 / 2012 -
SỐ ĐẶC BIỆT NGÀY THƠ VIỆT NAM - XUÂN NHÂM THÌN

256 trang.
Nội dung phong phú, nhiều bài hay của các tác giả: NGUYỄN PHÚ TRỌNG, HOÀI THANH, HUY CẬN, ANH NGỌC, ĐẶNG TIẾN, LƯU QUANG VŨ, ĐỖ CHU, HỒNG DIỆU, NGUYỄN QUANG LẬP, VŨ PHONG TẠO... 
&
Thơ của trên 60 nhà thơ trong, ngoài nước: NGUYỄN KHOA ĐIỀM,      NGUYỄN THỊ MAI, HÀ MINH ĐỨC, MAI LIỄU,  TRẦN NHUẬN MINH, NGUYỄN ĐỨC MẬU, ĐẶNG HUY GIANG, Y PHƯƠNG, TRẦN NINH HỒ, VƯƠNG TÙNG CƯƠNG, NÔNG THỊ NGỌC HOÀ, VŨ QUẦN PHƯƠNG,  INRASARA,  TRẦN QUANG QUÝ,  NGUYỄN THANH KIM, LÊ MINH QUỐC... 
 Trong Tạp chí có bài ĐếnSingapore nhớ Cao Bá Quát.
ĐTM trân trọng giới thiệu lại bài ký trên, theo đúng bản đã in trong Tạp chí Thơ (Số 1 & 2 / 2012), có đôi chỗ khác với bản trước đây.  


         ĐẾN SINGAPORE
         NHỚ CAO BÁ QUÁT

                                        DUY PHI

   Đúng vào dịp Noel năm 2011, tôi có chuyến đi Singapore và Malaysia bằng máy bay boeing. Ồ, thật kỳ lạ, chiếc máy bay chở gần năm trăm người, trọng lượng tất cả đến 300 - 400 tấn, lướt trên độ cao trên mười ngàn mét. Tôi nhìn qua cửa kính, một ngày nắng đẹp, cả một cánh đồng mây ngần trắng cuồn cuộn dưới cánh máy bay. Có những núi mây rất trắng, phát sáng như thiếc ròng như bạc chảy. Lâu nay, từ dưới mặt đất nhìn lên trời, tôi chưa bao giờ được thấy một đám mây trắng loá, phát sáng như thế! 


   Từ sân bay Nội Bài đến Singapore khoảng 2800 km, boeing sẽ bay chừng 4 giờ. Bỗng nhớ  xưa, Singapore còn có tên là Tân Gia Ba. Vào giữa thế kỷ XIX, các vua nước ta đã từng cho những con thuyền buồm vượt biển đến Singapore buôn bán. Từ kinh đô Huế ngày ấy, thường phải đi thuyền hàng tháng mới đến Singapore. Vậy mà bằng boeing, đám hậu sinh chúng tôi với thời gian đúng bằng một buổi học của trò Tiểu học đã tới sân bay Changi, dặt chân lên Singapore - quốc đảo.
   Kể ra, được đến thăm National orchid garden - Vườn lan quốc gia, công viên Merilon, thăm đồi Faber, đi xem nhạc nước, những cao ốc, siêu thị, tầu điện trong lòng đất, hưởng mấy ngày khí hậu xích đạo, đất nước GDP tính theo đầu người vào loại nhất thế giới…  đã là thú lắm rồi. Song, tôi còn có ý đồ khác. Tôi muốn tìm mấy dấu tích xưa. Bởi tôi bị mấy bài thơ của thi sĩ họ Cao, ám ảnh. Cao Bá Quất đã từng đến Singapore, còn để lại một chùm thơ viết bằng chữ Hán.
   Cao Bá Quát hiệu là Chu Thần và Cúc Đường, người làng Phú Thị (xưa thuộc Siêu Loại, Kinh Bắc, nay thuộc Hà Nội), sinh năm 1808. Ông thông minh từ nhỏ, 23 tuổi đỗ cử nhân. Song tính tình phóng túng, không chịu kỵ huý, nên mấy lần ông thi Hội đều hỏng. Với chức Hành tẩu ở bộ Lễ, năm Tân Sửu (1841), Cao Bá Quát được cử làm Sơ khảo trường thi Thừa Thiên, vì tội chữa 9 chữ trong một số quyển thi phạm húy, ông bị tra xét, nghị tội: xử tử. Vua xét lại, tạm tha tội chết cho Cao, chuyển thành giảo giam hậu (giam, chờ xét trảm).  Sau chừng hai năm bị giam cầm, tra tấn, thì Cao được tạm tha, được cho đi dương trình hiệu lực, đi phục dịch để lấy công chuộc tội. Con thuyền đi chuyến ấy có tên là Phấn Bằng, do ông Đào Trí Phú làm trưởng đoàn.


HÌNH ẢNH THUYỀN PHẤN BẰNG THỜI ẤY  
   Trưởng đoàn Đào Trí Phú, người làng Phước Kiển, dinh Trấn Biên (nay thuộc tỉnh Đồng Nai). Ông đỗ Cử nhân, lần lượt trải các chức quan: Thị lang bộ Hộ, Tham tri bộ Hộ... Theo Đại Nam thực lục, cũng như dựa vào nghiên cứu của Chen Ching Ho (Trần Kinh Hòa), đoàn sứ bộ của Đào Trí Phú đã đến miền Hạ Châu, bao gồm khu vực: Indonesia (Giang Lưu Ba), Singapore (Tân Gia Ba)… Nhưng trong một số công trình nghiên cứu khác, nhiều tác giả đã khẳng định, miền mà Đào Trí Phú, Cao Bá Quát đã đến chính là Singapore và Malaka ngày nay.
   Bốn chữ Dương trình hiệu lực thì dương trình, có nghĩa là cuộc hành trình đến gặp người Tây dương, người phương Tây. Ở đây, thực chất không phải là đi sang Châu Âu mà là đến vùng đất thuộc địa của người Anh quốc. Kể từ năm 1824, miền đất này đã là thuộc địa của người Anh. Còn hiệu lực là giúp việc một cách đắc lực. Thời đó cũng có điểm giống như bây giờ; bây giờ tại Singapore cũng như Malaysia, phần lớn do người Hoa hướng dẫn cho các đoàn du khách; thời đó “Mậu dịch giữa An Nam và Singapore do thần dân người Hoa trong nước đảm nhiệm”. Ngay từ thời ấy, người Hoa đã chiếm đến 60 % dân số của Singapore, nghề nghiệp chính của họ là buôn bán. Đoàn sứ bộ đi, không có ai nói tiếng Hoa thạo. Cao Bá Quát không biết nói tiếng Hoa, nhưng ông giỏi chữ Hán, ông có thể bút đàm với họ. Đoàn sứ bộ của Đào Trí Phú sang Singapore khởi hành từ tháng Chạp năm Quý Mão (1843) đến tháng Bảy năm Giáp Thìn (1844) thì về nước. Hàng hoá mang bán của ta là đường, lâm thổ sản quý, mua về len dạ, vũ khí, đặc biệt lần ấy còn mua về được một hoả cơ đại thuyền - chiếc máy hơi nước cho thuyền cỡ lớn. Theo một số tài liệu, kẻ bán cho chiếc hoả cơ đại thuyền ấy là người Anh, tên là Robert Hunter. Giá mua là 28 vạn quan tiền. Sự mua bán này cũng do người Hoa làm môi giới. Người Hoa thường đi với Cao Bá Quát có tên là Đào Liên Phương. Một lần, Cao Bá Quát đã tẩu bút (viết nhanh) trao Hoàng Liên Phương bài thơ:              
   Dữ Hoàng Liên Phương ngữ cập hải ngoại, triếp hữu sở cảm, tẩu bút dữ chi  
  Tiêu tiêu liên mạc nhất tham quân/ Ngâm đáo tu ngu bất nhẫn văn/ Vạn lý yên ba do tác khách/ Tam xuân phong nguyệt thặng phùng quân/ Phiếm sà man tự đàm Trương sứ/ Quyết nhãn bằng thuỳ điếu Ngũ Vân (Viên)/ Ngã thị trung nguyên cựu nhân vật/ Tây phong hồi thủ lệ phân phân.
Nghĩa:
Cùng với Hoàng Liên Phương nói đến hải ngoại, cảm xúc, viết nhanh đưa bạn 
   Ta làm chức tham quân vớ vẩn trong trong “màn sen”/ Ngâm câu thơ ở nơi tiếng nước ngoài thì không cả muốn nghe nữa/ Muôn dặm khói sóng. Mình là khách thôi/ Ba tháng xuân trăng gió, may gặp được ông/ Cùng chuyện phiếm về chàng Trương (Trương Khiên đời Hán, đi sứ, bị Hung Nô bắt, giam giữ, trên mười năm mới trốn về được)/ Ngẫm lời dặn “khét mắt”, nhờ ai viếng hộ Ngủ Viên/ Ta cũng là nhân vật cũ của Trung nguyên đây/ Gió Tây thổi, ngoảnh đầu lại, lệ rơi lã chã.
    Cao Bá Quát cảm thấy mình giống Ngũ Viên, thời Chiến quốc- Trung Quốc. Tướng Ngũ Viên nước Ngô bắt được vua nước Việt đem về giam. Vua Việt dâng Tây Thi cho vua Ngô. Ngũ Viên can. Vua Ngô cứ lấy Tây Thi mà tha cho vua Việt, lại nghe lời gièm pha giết Ngũ Viên. Lúc lâm hình, Ngũ Viên có dặn lại: Sau khi ta chết, hãy khoét mắt ta treo ở cửa thành để ta nhìn thấy quân Việt kéo vào chiếm Ngô. 
   Ôi, Cao Bá Quát đến đây từ 168 năm trước, còn chi dấu tích? Đến Singapore, chúng tôi chịu, không chộp được hình ảnh nào xa xưa. Tôi đã đi ròng rã mấy ngày, vượt sông Singapore, dạo bên eo biển Malaka - eo biển nối Đại Tây Dương với Thái Bình Dương. Tại Malaka, chúng tôi hoà nhập trong cả ngàn xe du khách, cả vạn người Âu, Mỹ, Hoa, Ấn… Người Hồi giáo có tục được lấy đến bốn vợ, chúng tôi được ngắm những gia đình một ông chồng với ba, bốn bà vợ theo sau, bà nào con nấy, họ trò chuyện vui cười và quay phim chụp ảnh kỷ niệm, vẻ đầm ấm lắm. Máy ảnh máy quay phim của họ rất hiện đại, nhiều nhà văn nhà báo nước ta mơ chưa thấy. Rất may, ở Malaka thì còn nhiều công trình cổ. Malaka là thành phố cổ của Malaysia, nằm ngay bên eo biển Malaka, giống như Hội An nước mình vậy. 


NGÔI CHÙA CỔ CỦA NGƯỜI HOA
Ở THÀNH PHỐ MALAKA - MALAYSIA



   Chúng tôi đến thăm một ngôi chùa cổ của người Hoa, đến xem thành cổ, người Bồ Đào Nha xây dựng năm 1512, thành xây toàn bằng những viên đá ong màu nâu sẫm cỡ lớn. Tôi lấy gang tay mà đo viên đá, 80 X 40 X 30 (cm), trên pháo đài hiện còn mấy khẩu súng thần công, gần giống với súng thần công ở thành Huế triều Nguyễn, lại được chiêm ngưỡng một nhà thờ Hồi giáo khổng lồ, xây dựng từ năm 1753,  nghĩa là đã có 90 năm, trước khi Cao Bá Quát đặt chân đến. Thời gian Cao Bá Quát lưu lại ở Singapore và Malaka đến bốn tháng. Tôi đi đi lại lại bên nhà thờ Hồi giáo, có phút cảm thấy ấm lòng, bởi hình như bàn chân mình được đặt lên dấu chân xưa của Cao thi sĩ.     
   Hẳn trên eo biển Malaka này đây, thi sĩ họ Cao đã thấy một con tàu lạ, trên tầu toàn là những người hồng mao - râu tóc màu hung đỏ, tức người Anh. Ông đã viết bài thơ: Hồng mao hoả thuyền ca, có đoạn:  
Đạo thị dương phiên hoả thuyền lý dĩ lai
Nguy tường ngật lập ngũ lạng tĩnh
Tu đồng trung trĩ, phún tắc yên tồi ngôi
Hạ hữu song luân triển chuyển đạp cấp lãng
Luân phiên lãng phá, ẩn kỳ sinh nộ lôi
Hữu thời hoành hành, đảo tẩu tật bôn mã
Vô phàm, vô lỗ, vô nhân thôi…

  

NHÀ THỜ HỒI GIÁO CỔ
 DƯỚI THẬP ÁC LÀ MẤY CHỮ LỚN
DƯỚI MẤY CHỮ LỚN LÀ CON SỐ 1753 - NĂM XÂY DỰNG



Nghĩa:
 Kìa hoả thuyền của Tây dương đang tiến lại đây/ Cột buồm cao chót vót, con quay gió yên lặng/ Giữa tầu có ống khói, nhả khói cuồn cuộn/ Dưới có hai chiếc guồng xoay chuyển, gạt đi những ngọn sóng dồn/ Guồng quay, sóng tung toẻ đều như sấm ran/ Rẽ ngang, lùi tiến nhanh hơn ngựa chạy/ Tầu mà không có buồm, không có lái không người chèo  thuyền
   Hồi giữa thế kỷ XVIII, vùng này đã phát triển nổi trội, thành trung tâm buôn bán của cả khu vực rộng lớn: Châu Á, Châu Phi, Anh quốc… Chỉ khác là thời ấy nhà cửa chỉ có hai ba lầu, còn bây giờ là những cao ốc năm bảy chục tầng cao vút. Tháp Đôi ở Kuala Kumpur cao đến 452 m. Thời Cao Bá Quát sang đây mua máy Điện Phi, thì máy hơi nước mới ra đời được chừng mười năm, tấu thuỷ mới chở được vài trăm tấn, còn bây giờ trên eo Malaka tấp nập những con tầu khổng lồ, nhiều tầu thuỷ trọng tải hàng vạn tấn, lênh đênh trên đại dương như những khu phố nổi. Lại có những tầu điện ngầm, dưới sâu đến 70 m. Thời xưa, thi sĩ họ Cao đến, mỏi cổ mỏi mắt nhìn ngắm, thì 168 năm sau, bọn tôi đến đây vẫn mỏi mắt mỏi cổ. Thật lạ, giữa Singapore và ta vẫn không đổi khoảng cách… 
   Trong mấy ngày, chúng tôi gặp nhiều mỹ nhân Âu, Ấn. Lại nhớ thi phẩm Dương phụ hành- Bài thơ về người phụ nữ phương Tây. Cao Bá Quát viêt:  


         DƯƠNG PHỤ HÀNH 

Tây dương thiếu phụ y như tuyết
Độc bặng lang kiên toạ thanh nguyệt
Khước vọng Nam thuyền đăng hoả minh
Bả duệ nam nam hướng lang thuyết
Nhất uyển đề hồ thủ lãn tri
Dạ hàn vô ná hải phong xuy
Phiên thân cánh thiển lang phù khởi
Khởi thức Nam nhân hữu biệt ly!

Dịch thơ:

          Bài hành
          Người đàn bà Tây dương

Nàng Tây ấo trắng - tuyết trong
Dưới trăng ngồi tựa vai chồng thật duyên
Nhìn thuyền Nam sáng ánh đèn
Níu áo chồng lại hàn huyên, cười đùa
Tay cầm cốc sữa, hững hờ
Biển đêm bỗng lạnh, gió lùa, sương lan
Đòi chồng nâng, vẻ nồng nàn
Đâu hay có một người Nam xa nhà!
                               (Duy Phi dịch) 
    Hình ảnh người phụ nữ phương Tây áo trắng như tuyết, làm nũng chồng, khiến ông nhớ đến người vợ ở quê Siêu Loại xa xăm một sương hai nắng, bản thân ông đang cô đơn, cách biệt. Ồ, tôi cũng thấy cô đơn lắm.
   Có đêm, người bạn Hoa còn rủ Cao Bá Quát đi xem kịch (Kinh kịch, tuồng) do người Hoa diễn. Thi sĩ họ Cao rất ngán cái cảnh vua quan trong tuồng ra oai vung gươm gầm thét trên sân khấu, trong khi Trung Hoa lúc ấy, buộc phải ký Hoà ước Nam Kinh, nhượng năm cảng, lại phải đền chiến phí là 21 triệu đồng bạc Mễ Tây Cơ cho người Anh. Chuyến đi ấy, Cao Bá Quát cũng thấy rỡ thực trạng bất công trong xã hôi Singapore, Malaka. Toàn những người da đen phải hầu hạ đánh xe cho người da trắng (Cá cá ô nhân ngự bạch nhân). Đến nơi này, thi sĩ họ Cao càng thấy văn chương bị rẻ rúng, bệnh nghèo của thi nhân khó mà chữa được (Văn vô thiện giá, bần nan trị)… Thời hiện đại, thơ làm sao? Còn sống! Tôi ngưỡng mộ tài thơ của các nhà thơ Singapore: Edwin Thumboo, Robert Yeo, Goh Sin Tub, Alvin Pang, Cyril Wong … với những tập thơ: Cây nở hoa, Bảy thi nhân, Thử nghiệm im lặng… Vậy ở đất nước Singapore, GDP - thu nhập bình quân theo đầu người gấp chừng bốn mươi lần Việt Nam, thơ vẫn sống, vẫn được tôn vinh. Dẫu thế nào thì thơ vẫn tồn tại.
   Ngoài chùm thơ 16 bài trong chuyến Dương trình hiệu lực, rải rác, Cao Bá Quát còn có những đoạn thơ viết về chuyến đi ấy. Trong bài Đề sát viện Bùi công "Yên Đài anh ngữ" khúc hậu (Đề sau khúc "Yên Đài anh ngữ" của quan Đô sát họ Bùi), có đoạn thơ, ông tự trách mình từng mê lẫn, nhiều năm đóng cửa đẽo gọt câu thơ, nhai văn nhá chữ. Ông tự coi mình chỉ như một con sâu đo mà muốn đo cả đất trời (Ta ngã bế hộ điêu trùng,  xỉ khẩu giảo văn tự/ Hữu như xích hoạch lượng thiên địa). Tiếp đến là bốn câu: Tự tòng phiếm hải lịch Ba Sơn/ Thủy giác lục hợp hà mang mang!/ Hướng tích văn chương đẳng nhi hí!/ Thế gian thùy thị chân nam tỷ (tử).
   Cách đây 37 năm, dịp Noel năm 1975 tại Sài Gòn, tôi đã được đọc một bản dịch bài thơ này. Phần dịch bốn câu trên, tôi đã nhập tâm:
Tân Gia từ vượt con tầu
Mới hay vũ trụ một bầu bao la
Giật mình khi ở xó nhà
Văn chương chữ nghĩa khéo là trò chơi... 



TRÊN ĐỒI FABER - ĐỈNH CAO NHẤT CỦA SINGAPORE

TỪ PHẢI SANG: 
BA VỊ TRƯỞNG LÃO:  HỮU CẤP,  KIM HẢI, DUY PHI
CHỤP ẢNH VỚI NGƯỜI ĐẸP THUÝ VÂN - 
CÔ GIÁO HÀ THÀNH, QUÊ GỐC HIỆP HOÀ, BẮC GIANG 

    Bây giờ, chịu, không nhớ được từ sách nào? Ai dịch nữa? Chợt nhớ lời bàn của Lê Quý Đôn: Trong bụng không có ba vạn quyển sách, trong mắt không có núi sông kỳ lạ của thiên nhiên thì không thể làm văn được, nhớ Nguyễn Tuân luôn xê dịch, Xuân Diệu ham đi cho giầu đôi mắt… Tôi luôn mong được xê dịch luôn luôn, nhưng đi luôn thì rỗng túi, rỗng túi thì không thể đi tiếp được, không đi tiếp được cũng không sao, tôi sẽ không ra khỏi cửa nữa, sống theo triết lý thời cổ. Lão Tử viết: Bất xuất hộ, tri thiên hạ - Không ra khỏi cửa mà biết được việc thiên hạ. Lại dạy thêm: Kỳ xuất di viễn, kỳ trí di thiểu - Càng ra xa, càng biết ít. Ha ha! Túi rỗng mà tiến thoái đều được cả. Không đi được thì ngồi mà tư duy, mà tưởng tượng. Dù sao, tôi vẫn e mấy câu thơ của Cao thi sĩ: Con sâu đo… Giật mình khi ở xó nhà/ … Văn sĩ, thi sĩ ngày nay, viết gì đây trước thời cuộc? Thời Tự Đức, bên Thần Siêu có Thánh Quát. Ông Thánh họ Cao này đã để lại 1353 bài thơ và 21 bài văn xuôi, đều bằng chữ Hán. Thơ hay đến kinh ngạc. Cao Bá Quát là một nhân cách lớn, một khí phách lớn…   
   Đi và viết. Hình như, mấy ngày ở Singapore và Malaka- Malaysia tôi đã tìm được chút dấu tích, gặp được anh linh của Cao Chu Thần? Bởi vậy, mà tin yêu thêm mùa xuân mới…
                                                Malaka - Malaysia 28/ 12/ 2011
                                                                      D P



Thứ Ba, 7 tháng 2, 2012

CỔ TỤC BÓP VÚ ...



CỔ TỤC BÓP VÚ TRONG 

MỘT SỐ LỄ HỘI XỨ KINH BẮC

 T.S NGUYỄN XUÂN DIỆN 


Cổ tục xứ Kinh Bắc


Những tài liệu dưới đây được viết bằng chữ Hán - Nôm, là những ghi chép về dân tục của vùng Kinh Bắc, vào năm Khải Định thứ 5 (1920), do Viễn Đông Bác Cổ chủ trương và các nhà nho Việt Nam tiến hành khai báo.

Tài liệu này đã được các nhà nghiên cứu thuộc Viện nghiên cứu Hán Nôm biên dịch trong cuốn sách: Địa phương chí tỉnh Bắc Ninh qua tư liệu Hán Nôm, do GS Đinh Khắc Thuân chủ biên. Nhà xuất bản Khoa học Xã hội năm 2009.

Phần biên dịch được trích dẫn dưới đây do Nguyễn Thị Hường - Nguyễn Tô Lan dịch, Đinh Khắc Thuân hiệu đính.

Tục hát và đánh chen ở xã Nga Hoàng, huyện Võ Giàng

Tài liệu viết: Lại hỏi, xã ấy vào ngày 11 tháng 2 có lệ nhập tịch tế thần…Tế xong, toàn dân cùng ăn uống ở đình. Đến chiều tối, mướn ca kỹ đến hát hầu thần ở đình. Ca kỹ hát ở chính giữa đình. Hai bên đình là chỗ trai gái đến xem hát. Nếu con trai thấy con gái đứng chỗ nào thì người con trai cũng đến chỗ đó đứng, con trai thân áp sát vào giữa đám con gái, thân người con trai sát thân người con gái, tay người con trai điểm vào ngực người con gái.

Đêm đó thuê ca kỹ đến hát thờ thần từ 7,8 giờ tối đến 4,5 giờ sang mới thôi. Đêm ấy từ lúc ca kỹ bắt đầu đến lúc thôi hát, đôi trai gái nào thuận tình, thì người con trai dẫn người con gái ra chỗ nào tối ở ngoài đình, hai người giao dâm với nhau, không dám làm việc đó ở trong đình, vì đôi trai gái sợ có uế khí với thần. Trai gái sát người vào nhau điểm ngực ở trong đình thì được, nhưng nếu đã giao dâm với nhau thì không được ở trong đình. Nếu như đêm ấy xã thuê ca kỹ hát thờ thần, không có con trai con gái trong xã ra đình xem hát, không có người con gái nào để đánh chen điểm ngực, thì đêm đó, mọi người dân xã trong đình tự nhiên sinh ra cãi nhau, hoặc người ca kỹ gây sự với người trong xã, hoặc người trong xã gây sự với nhau, mọi người sinh ra ẩu đả. Cho nên, năm nào vào đêm hôm đó, ca hát hầu thần cũng có nam nữ ra đình xem hát, đánh chen, điểm ngực thì mới tránh được nảy sinh những chuyện bất bình.
*Điểm ngực: Bóp vú. NXD chú.

Hát thờ thần và hát 
nằm với nhau ở làng Diềm

Làng Diềm tức xã Viêm Xá, tổng Châm Khê, huyện Võ Giàng ngày xưa, tương truyền là một trong những nơi gạo cội của hát Quan họ. Tài liệu Bắc Ninh tỉnh khảo dị ghi: Lại nói xã ấy có một đình, phụng thờ hai vị thần hoàng, thánh ông hiệu là Tam Giang Đại vương, thánh bà hiệu là Hoàng hậu. Hàng năm vào ngày mồng 4 tháng giêng khai xuân…Ngày 10 tháng 8, nhập tịch mở hội tế hai vị thần.
.
Lại như trai gái xã ấy giao lưu với xã Hoài Bão ở huyện Tiên Du. Nam nữ làm một hội hát, xã Viêm Xá gồm 10 người con trai, 10 người con gái, xã Hoài Bão gồm 10 người con trai, 10 người con gái. Nam nữ hai xã này hợp thành một phường ca hát. Đến ngày xã Viêm Xá mở hội xuân hay ngày nhập tịch thờ hai vị thần, dân xã sai một người con trai mang trầu cau đến xã mời con trai con gái xã Hoài Bão sang xã Viêm Xá hát; nhưng con gái xã Hoài Bão không đi mà chỉ có các chàng trai đến xã Viêm Xá. Con trai xã Hoài Bão ca với các cô gái xã Viêm Xá. Nếu ngày nào theo tục lệ là ngày xã Hoài Bão thờ thần, thì xã Hoài Bão cũng sai một người con trai mang trầu cau sang mời trai gái xã Viêm Xá đến, nhưng con gái xã Viêm Xá không đi, chỉ có con trai đến xã Hoài Bão hát với các cô gái xã Hoài Bão…

Lại hỏi, xã ấy vào ngày 4 tháng giêng có tục con trai con gái đến đình thờ thần, rồi đến đêm thì cùng nhau về nhà chị cả, hát với con trai xã Hoài Bão. Đêm ấy làng này con gái có chồng và con gái chưa chồng cũng đều đến nhà chị cả. Con trai Hoài Bão với con trai xã ấy ngồi một bên… con gái ngồi một bên trong nhà chị cả. Chị cả sai người nhà làm tiệc rượu mời các chàng trai xã Hoài Bão ăn uống no say, sau đó mới hát. Trai gái hát từ 8 giờ tối đến 2 giờ sáng thì tắt đèn trong nhà, trai gái cùng nằm mà hát. Lúc tắt đèn, anh cả hát với chị cả, anh hai hát với chị hai …, anh bé hát với em bé, còn những người con trai thuận tình với người con gái nào thì cũng hát với cô ấy. Nếu như chàng trai con gái nào yêu nhau, giả vờ đi ra tiểu tiện ở ngoài nhà, cùng đi ra ngoài nhà mà giao phối, thường thì người trong nhà cũng không biết. Sau đó lại vào trong nhà rồi hát, hát đến 4,5 giờ sáng mới thôi. Con trai xã Viêm Xá về nhà, con trai xã Hoài Bão về xã Hoài Bão, rồi con gái xã Viêm Xá tiễn con trai xã Hoài Bão về, chị cả tiễn anh cả, chị hai tiễn anh hai, chị ba tiễn anh ba, chị tư tiễn anh tư, chị năm tiễn anh năm, em bé tiễn anh bé, mỗi người tiễn một đường, không đi chung một đường, hoặc đi cách xa đường nhau. Lúc 4,5 giờ sáng vẫn đương tối chưa sáng, trai gái tiễn nhau về cũng làm việc giao phối ở bên đường, lúc đó không ai biết. Xã này có tục ấy, nên người nào có con gái không cho đi hát đêm ấy thì bị những người cho con gái đi hát cười. Cười rằng: “Những người có con gái không cho đi hát cũng hư mất đời, lại không tuân lệ làng.”

Một số câu hát được ghi lại như sau:
Nam:
Khen cho cũng thực duyên trời
Đưa ra kết mấy những người bạn loan.
Nữ:
Giầu này xin gửi bạn loan
Công này kể núi Thái Sơn nào tày
Yêu nhau ăn miếng giầu này
Ăn giầu rồi sẽ giải bày niềm đan
Nam:
Muốn cho đôi chữ ái ân
Lòng tôi muốn kết trước sân giãi bày.
Nữ:
Muốn cho đôi chữ một dòng
Trên trời chưa định trong lòng đã vui….

Tục hát úp đèn thờ thần, 
điểm ngực ở Ném Thượng
 
Làng Ném Thượng sáng ngày Rằm tháng giêng có tục giết lợn tế thần. Tối hôm đó mời đào nương đến hát. Tài liệu trên chép:

Khấn xong, mọi người cùng lễ bái thần. Mọi việc xong thì người già ngồi một gian bên trong đình xem hát. 3,4 người kỳ mục ngồi ở gian giữa, trong chỗ có hương án, đánh trống xem hát. Đào nương đứng ở ngoài hương án mà ca hát. Đàn ông, đàn bà, người già trong làng đều ra đình xem và nghe hát.

Ca hát từ đó đến 8,9 giờ tối thì thắp đèn, hát đến chừng 2 giờ đêm. Một người kỳ mục bưng đĩa đèn đứng thẳng trên mặt đất giữa đình, lấy một cái chõ úp lên trên đèn ( chú thích: Tục cổ thì tắt đèn đi, nay thì lấy chõ úp lên), trong đình, trong cung ấy tối om om. Một người kỳ mục ngồi ở gian chính giữa mới nhảy xuống sờ ngực người đào nương. Còn đàn ông đàn bà người nào người nấy thấy đèn bị che đi, lại thấy kỳ mục sờ ngực đào nương thì các đàn ông cũng sờ ngực đàn bà.

Khoảng ba phút đồng hồ thì có một người nhấc cái chõ ra, đèn lại sáng. Mọi người không sờ ngực nữa, lại ngồi nghiêm chỉnh như cũ để nghe hát…

Nếu năm nào nhập tịch tế thần không mướn đào nương đến đình hát thờ thần, lại không sờ ngực đào nương, không có đàn ông sờ ngực đàn bà thì năm ấy trong làng trâu bò lợn gà phần nhiều đều bệnh tật, người người đều không được yên…Nếu… có mướn đào nương đến hát và đàn ông sờ ngực đàn bà ở trong đình thì năm đấy nhân dân được bình yên, trâu bò lợn gà sinh sôi nảy nở…,lúa má tằm tang tươi tốt.

Tục trên được ghi lại do người ghi chứng kiến tại chỗ vào đêm 15 tháng giêng năm 1920 tại đình Niệm Thượng.
---

Thứ Hai, 6 tháng 2, 2012

VŨ LẬP VỚI 216 BÀI THƠ TỨ TUYỆT XỨ TUYẾT


VŨ LẬP
(CHLB ĐỨC)
 
Quê: Yên Hoà, Yên Mỹ, Hưng Yên; nhiều năm ở Bắc Giang, Hà Nội; hiện sống tại CHLB Đức.  Đã xuất bản các tập thơ: Hương quỳnh - 2004, Tháng Giêng (Hội Nhà văn- 2005), Vạt thương vạt nhớ (Hội Nhà văn- 2005), Tuyết bỏng (Văn học- 2010).  
NT Vũ Lập vừa xuất xưởng tập thơ TỨ TUYỆT XỨ TUYẾT,   gồm 216  bài bốn câu, Nxb Văn học, 1- 2012.  ĐTM hân hạnh giới thiệu một chùm thơ trong TTXT...  

LỜI ĐẦU SÁCH CỦA
         DUY PHI


Anh bỗng xuất hiện. Về từ bao giờ? Mới hai ngày. Vũ Lập quê gốc Yên Mỹ, Hưng Yên, nơi từng có nhiều văn nhân nổi tiếng: Đoàn Thị Điểm, Chu Mạnh Trinh, Dương Bá Trạc… Đã có đến hàng chục năm, anh sống cùng phố chợ Thương với tôi. Vũ Lập từng đi thi học giỏi văn toàn miền Bắc, có hai bằng đại học, từ những năm bảy mươi của thế kỷ trước, từng có chức sắc, mà nhiều năm tôi chứng kiến sự bươn bả, mưu sinh. Chúng tôi, Đặng Tiến Huy - Duy Phi, đã có đôi lần cùng anh tâm sự thơ văn. Lần này, anh trao cho tôi đọc giúp tập bản thảo trên hai trăm bài thơ tứ tuyệt. Biết Vũ Lập mới được Giải Nhất cuộc thi thơ xướng hoạ Ngày Đàn Ông ở Đức năm 2011 do báo Người Việt. DE tổ chức mà vẫn bất ngờ, sau cũng vỡ lẽ. Những năm lưu lạc đây đó, làm thơ tứ tuyệt là thuận. Văn chương cứ đâu dài. Viết nhiều thể loại, song Chế Lan Viên vẫn có cái thú riêng với thơ tứ tuyệt. Thi sĩ có bài Thơ cầm tay: Nhân loại đi xa chớ có vẽ bày/ Từ ngữ kềnh càng, văn chương vô lối/ Cả đời anh anh thu nhỏ lại/ Chỉ còn cái lõi/ Cho nhân loại mang cùng nhân loại cầm tay. Có lẽ Vũ Lập tâm đắc với ý này chăng? Tập có đến trên hai trăm bài tứ tuyệt của Vũ Lập, tôi đã đọc một mạch. Đọc thơ là tìm hiểu nhau, đồng cảm và khám phá.



CẢNH LÀNG QUÊ HƯNG YÊN  





Tôi yêu vỉa thơ về cố quốc, các bài: Trăng phố Hiến, Tình quê, Trăng vỡ… Chùm thơ này hay nhất vẫn là Thả cái lim dim, bài thơ đã được Giải Ba (không có Giải Nhất) trong cuộc thi thơ tứ tuyệt năm 2009, do Tạp chí Kiến thức ngày nay tổ chức: Trưa hè mắc võng bóng cây/ Dịu dàng hương nhãn, đong đầy tiếng chim/ Phù vân ai mải kiếm tìm/ Ta về thả cái lim dim cùng diều. Hương nhãn, gợi về cố hương Hưng Yên nhãn lồng nổi tiếng. Phù vân… kiếm tìm: Ấy là danh lợi. Con người trong thơ đã trải nghiệm, biết tiết chế, “Thanh tâm”, “quả dục”, biết thưởng ngoạn thiên nhiên. Từ chơi thả diều thành thả cái lim dim, cái nheo mắt hướng lên con diều cao vút, gợi tiếng sáo diều vi vu, gợi bầu trời thu: Tầng mây lơ lửng trời xanh ngắt- Nguyễn Khuyến. Thơ Vũ Lập dân dã mà vẫn đạt được hiện đại, ảo hoá.
Rất mừng là sang trời Tây anh vẫn chung thuỷ với thơ, viết nhiều hơn. Một số bài thơ có cách viết chân mộc mà cảm động: Mười năm lẻ sang Tây/ Sòn sòn mấy đứa trẻ/ Nước Đức bao ăn ở/ Thất nghiệp thế mà hay (Thất nghiệp), Bình minh nghe chim hót/ Thánh thót ngỡ quê nhà/ Mở mắt đen vàng đỏ/ Bóng quê vời vợi xa … (Xuân đến). - Cờ Đức 3 màu: đen, vàng, đỏ. Bài thơ Giữa miền: Tối ngày xuôi ngược kiếm tiền/ Tình như cổ tích giữa miền văn minh/ Đi gom mảnh vỡ gia đình/ Đầy vơi băng giá những hình … con tim! - Đọc, gợi ta thêm thấm thía và cảm thông, với nhiều hoàn cảnh, thân phận!
Người xa xứ đâu phải chỉ buồn, còn có nhiều niềm vui. Anh đã có nhiều câu thơ thăng hoa trong: Bán hết đất Tây,  Bắt trăng, Vọng…  Bài thơ Đêm Paris, anh lại có những phút tự hào, hạnh phúc: Ta trèo lên đỉnh tháp Eiffel/ Huyền ảo lung linh Paris đêm/ Hòn ngọc châu Âu bao kỳ thú/ Sao trời xuống thấp đón ta lên. Đọc miên man, tôi yêu cả mấy vần thơ tình trong tập Tứ tuyệt xứ tuyết: Sẹo tình tưởng đã ngủ im/ Nào ngờ ảo ảnh cứ dìm lệch vai... (Vọng), Gom cả trời tuyết vào thơ/ Gửi phương nắng lửa khỏi chờ thu sang (Gửi cho em).                     
Đọc đến bài Bên dòng Chemnitz: Ngất ngây dòng Chemnitz/ Nghe triết Mác rì rào/ Hôn câu thơ của Goethe/ Thấy lệ rơi thân Kiều; tôi mới chợt nhớ, Vũ Lập đang cư ngụ tại thành phố Leipzig, nơi có nhiều kỷ niệm gắn bó với J. W. Goethe - Đại thi hào Đức.  J. W. Goethe nói: Thực tế cho anh những môtip, những đề mục để thể hiện - đó là hạt, biến hạt đó thành chỉnh thể sống đẹp đẽ là nhiệm vụ của nhà thơ. Tiếng đó vẫn văng vẳng. Đời mỗi nhà thơ đã biến được mấy hạt thực tế thành chỉnh thể sống đẹp đẽ? 
Mấy năm gần đây, cùng với tư tưởng là thủ pháp, thơ anh đã tự vượt lên mình nhiều lắm. Tứ tuyệt xứ tuyết là tập thơ thứ năm của nhà thơ Vũ Lập, một thành công mới, niềm vui mới. Chúc mừng anh, trân trọng giới thiệu cùng bạn đọc.                                                          DP




CHÙM THƠ TRONG
TỨ TUYỆT XỨ TUYẾT  

                                                                                              


HỒ GƯƠM

HỒ GƯƠM

Ai thả cầu vồng thành Thê Húc
Rêu phong đọng mãi nét Ngọc Sơn
Rùa vàng gươm báu trăng đáy nước
Từ thuở vua Lê vẫn xanh rờn.
            
XUÂN ĐẾN

Bình minh nghe chim hót
Thánh thót ngỡ quê nhà
Mở mắt đen vàng đỏ
Bóng quê vời vợi xa…

---
* Cờ Đức 3 màu: đen, vàng, đỏ.

 CỘI NGUỒN 

Ở nơi đa sắc tộc
Văn hoá nhiều quốc gia
Lấy cội nguồn là gốc
Ta sẽ nhìn thấy ta. 

CHỢ TRỜI

Mịt mùng gió cuốn tuyết tung bay
Như mỡ đường trơn ngập cả giày
Chồng chất lo âu hàng Weibnacht  
Căng lều đợi khách có ai hay?


GIỮA MIỀN

Tối ngày xuôi ngược kiếm tiền
Tình như cổ tích giữa miền văn minh
Đi gom mảnh vỡ gia đình
Đầy vơi băng giá những hình… con tim! 

ĐI TÌM

Tìm câu Tứ tuyệt để đời
Bạc phơ mái tóc đầy vơi nỗi niềm
Tứ như ẩn hiện bên thềm
Tuyệt còn vời vợi ở miền … Trăng trôi… 


THẢ CÁI LIM DIM 

Trưa hè mắc võng bóng cây
Dịu dàng hương nhãn,
                  đong đầy tiếng chim
Phù vân ai mải kiếm tìm
Ta về thả cái lim dim cùng diều

---
* Bài thơ này được Giải Ba (không có Giải Nhất) trong cuộc thi thơ tứ tuyệt do Tạp chí Kiến thức ngày nay tổ chức, năm 2009.


quê hương 






Thứ Bảy, 4 tháng 2, 2012

NĂM TẤM ẢNH MỚI





DẠ HỘI THƠ TẠI VĂN MIẾU - HÀ NỘI   
(13/ Giêng, Nhâm Thìn- 2012) 
GẦN 80 NHÀ THƠ TỪ 27 NƯỚC VÀ KHU VỰC 
TRÊN THẾ GIỚI THAM GIA 
TIẾT MỤC NHÃ NHẠC CUNG ĐÌNH HUẾ TRONG DẠ HỘI






CÁC NHÀ THƠ ĐỌC THƠ   
    



HÌNH ẢNH THẮP LỬA 
TRONG DẠ HỘI THƠ  




MỘT HÌNH ẢNH TRONG TIỆC GIÃ BẠN
***





Xin chia sẻ một tấm hình rất dễ thương và có ý nghĩa: Một ban nhạc của các em học sinh từ một trường Middle SchoolWestminster, California trong trang phục áo dài truyền thống của Việt Nam diễn hành trên đại lộ Bolsa trong ngày mùng 6 Tết (27 tháng Giêng năm 2012).

Cô giáo dạy nhạc là người Mỹ và các em học sinh dù các sắc tộc khác nhau nhưng đã cùng mặc trang phục áo dài của người Việt Nam để vinh danh ngày Tết cổ truyền của dân tộc Việt.


---
 *
   Source: photo by CLB Tình Nghệ Sĩ  
    VANVN.NET & NT NGUYỄN KHÔI
 

Thứ Năm, 2 tháng 2, 2012

THƠ HOÀNG GIA CƯƠNG




     HOÀNG GIA CƯƠNG

Nhà thơ Hoàng Gia Cương quê Quảng Trạch, Quảng Bình, định cư tại Hà Nội. Hội viên Hội Nhà văn Hà Nội. Đã xuất bản các tập sách:
-Lặng lẽ thời gian - thơ- NXB Thanh niên -1997
-Lắng đọng - thơ- NXB Hội Nhà văn- 2001
-Trong cõi vô biên - thơ - NXB Hội Nhà văn - 2005
-Trải nghiệm với thời gian - thơ - NXB Hội Nhà văn - 2010
-Cổ tích cho mai sau - Truyện & ký - NXB Quân đội nhân dân - 2006
Sẽ in; 2 tập thơ và 1 tập truyện... .
   Có thơ trong nhiều tuyển thơ quốc gia: Thơ Việt Nam 1945- 2000, Thơ VN 1975- 2000, Thơ tình bốn phương, Thơ tình Việt Nam và Thế giới... ĐTM giới thiệu chùm bài do Vi Lan sưu tập.


NT HOÀNG GIA CƯƠNG

ĐÔI RỒNG TRƯỚC
ĐIỆN KÍNH THIÊN

Đôi rồng trước Điện Kính Thiên
Sáu trăm năm vẫn vẹn nguyên dáng rồng
Còn đây cốt cách Thăng Long
Còn đây hào khí một Đông Đô thành !

Thăng trầm bao cuộc đao binh
Lầu xưa, điện cũ sạch sanh, điêu tàn ...
Vì đâu rồng vẫn trơ gan
Mặc cho bụi cuốn, phũ phàng nắng mưa ?

Dáng rồng vẫn dáng ngày xưa
Ngẩng đầu bởi chẳng bao giờ cúi khom
Như lời nhắn gửi cháu con
Thăng Long là thế đất rồng bay lên !
                                                                                      10/2004
 CHÙA ĐỒNG- YÊN TỬ

YÊN TỬ


Yên Tử, Yên Tử !
Ta đi tìm quá khứ
Giữa đại ngàn thâm u ...

Rừng điệp trùng trăm ngả
Đâu vết chân người xưa ?
Âm âm chiều thác đổ !

Những oan hồn Cung nữ
Cuồn cuộn dòng Giải Oan
Gầm gào cơn gió hú !

Lần đường theo tiếng mõ
Dốc hẹp, đá chênh vênh
Bước phì phò, hụt thở !

Nghiêng mình bên Tháp Tổ
Bái vọng Thiền Trúc Lâm
Nén hương trầm cháy đỏ.

Cây đại già khắc khổ
Cần mẫn trước Vân Yên
Bảy trăm mùa hoa nở !

Hàng tùng xanh bóng toả
Dẫn lối lên Phù Vân
Cửa Thiền luôn rộng mở !..

Tới đỉnh cao Yên Tử
Ngắm đất trời mênh mông
Mới hiểu Trần Nhân Tông
Mới thấy mình bé nhỏ !

Ta đi tìm quá khứ
Để rộng đường tương lai
Như yêu hoa, yêu cỏ
Để yêu hơn kiếp người !


                                                         2/2000
                              
NT HOÀNG GIA CƯƠNG VÀ NGƯỜI TÌNH TRĂM NĂM  
DẠO THĂM VÀI NƯỚC CHÂU ÂU- 2007
                                                                                                                                                                       

LÊN CHÙA
          BÁI ĐÍNH
Chùa đang dựng đã dập dìu viễn khách
Đường chưa xong vẫn nườm nượp xe lên
Ta cố thoát lớp bụi trần đỏ quạch
Tới lưng đồi Bái Đính vọng tòa sen !

                                             Ninh Bình 22/4/2008


MỘT THOÁNG
SƠN LA

Ngại gì Thung Nhuối, Thung Khe
Xe băng sườn núi
Mây che dưới đồi.

Nghe như Châu Mộc gọi mời
Trà thơm một ấm
Sữa tươi một bình.

Hẳn là pì noọng rất xinh
Khăn piêu đón gió
Suối xanh đợi người.

Nên chi thẳng thấy xa xôi
Rượu cần chếnh choáng
Giọng cười đổ xiêu.

Quỳnh Nhai sương khói loang chiều
Pí vang đầu núi
Khèn reo cuối mường.

Cơm lam, chẩm chéo*, măng rừng
Gặp nhau để nhớ
                          để thương
                                         để mà…

Tôi về Tạ Bú, Tạ Khoa
Thẩn thờ lẻ bóng sông Đà
Noọng ơi!

----
* Chẩm chéo: một loại nước chấm măng luộc của người
Thái.



BẾN NINH KIỀU - CẦN THƠ

TRÊN BẾN
NINH KIỀU

Ngẩn ngơ với đất với trời
Giữa Cần Thơ
Biết ai người cần… thơ!

Mênh mang nước dợn, vào thu
Ninh Kiều bến đợi, sông chờ…
Không em!

Người đi Vĩnh Thuận, Long Xuyên
Trà Ôn, Long Mỹ…
Biết lên thuyền nào?

Nắng xiêu chợt đổ mưa rào
Nửa đi, nửa đợi…
Lòng nao nao lòng!

Một nguồn mấy vạn ngả sông?
Mấy ngả sông, mấy ngả lòng…
Ngờ đâu?

Hậu Giang lòng rộng nước sâu
Bâng quơ chiếc lá thả vào bâng quơ!







NÚI BÀI THƠ


  HAI BÀI THƠ CỔ
  Ở NÚI BÀI THƠ - 
  THÀNH PHỐ HẠ LONG 
    
                                                             DUY PHI

    Điệp điệp trùng trùng các đảo trên vùng biển Quảng Ninh có dáng rồng, - Hạ Long, những con rồng vừa xuống, vờn lượn. Riêng núi Bài Thơ, nhiều người ngắm, lại cho rằng, có dáng con rồng sắp cất cánh.
   Núi Bài Thơ được hình thành từ kỷ Đê vôn, trong cuộc vận động tạo núi Indonesia, xưa còn có tên chữ là núi Truyền Đăng, dân quanh vùng thường gọi là núi Rọi Đèn, bởi trên đó đêm đêm có ngọn đèn báo hiệu cho tàu bè cập bến. Khi có giặc, trên núi có đốt lửa để báo động cho cả vùng…
   Dân tộc ta yêu thi ca, nhiều thời có ông hoàng vị chúa làm thơ. Thời Lê, vua Lê Thánh Tông nổi tiếng từ nhỏ về hay chữ. Vua đã lập Tao đàn Nhị thập bát tú, 28 vị trạng nguyên, tiến sĩ giỏi thơ để xướng hoạ. Lê Thánh Tông đứng đầu của Tao đàn, gọi là Tao đàn Đô nguyên suý. Mùa xuân năm Quang Thuận thứ 9 (1468), nhân chuyến tuần du ở vùng Hải Đông (nay thuộc thành phố Hạ Long), thấy núi Truyền Đăng giữa một vùng hương trời sắc nước, vua bèn ngẫu hứng làm bài thơ tám câu luật Đường. Các quan đi theo đã cho khắc vào vách núi. 


 VUA LÊ THÁNH TÔNG
(Tranh lụa)

    Bốn câu đầu của bài thơ:
            Cự lãng uông uông triều bách xuyên
Quần sơn cơ bố bích liên thiên
Tráng tâm sơ cảm hàm tam củ
Tín thủ dao đề tốn nhị quyền…
   Bài thơ chữ Hán, không có bản dịch nghĩa, nên đời nay có nhiều cách luận giải. Chỉ tiếc là có cách dịch quá xa với nguyên tác, người ta có thể nghĩ: dịch là phản. Câu 3, có người dịch: Nao lòng thế trận ba hồi trống. Đánh giặc, thấy có giặc thì nổi trống thôi thúc mọi người hăng hái chống giặc, sao lại nao lòng? Chữ nao trong tiếng Việt có nghĩa là chao động, còn có nghĩa là nao núng. Dịch giả có nghĩ đến ý đó chăng?  Câu 4, có bản đã dịch: Xưa theo kẻ khác luôn bền chí. Theo kẻ khác là theo kẻ nào? Theo giặc chăng? Theo giặc, sao lại luôn bền chí? Có bao giờ dân ta bền chí theo giặc? Dịch như trên, nguyên nhân chính là các dịch giả đó chưa hiểu được ý thơ Lê Thánh Tông - cháu ruột của Lê Lợi. Toàn bài thơ:

Cự lãng uông uông triều bách xuyên
Quần sơn cơ bố bích liên thiên
Tráng tâm sơ cảm hàm tam củ
Tín thủ dao đề tốn nhị quyền
Thần Bắc khu cơ sâm hổ lữ
Hải Đông phong toại tức lang yên
Thiên nam vạn cổ hà sơn tại
Chính thị tu văn yển vũ niên.

   Đây là một bài thơ vịnh sử, như thời Trần, Trương Hán Siêu (? -  1354) viết Bạch Đằng Giang phú, Lý Tử Tấn (1378 - 1457) viết Xương Giang phú. Đến Hải Đông, Lê Thánh Tông nhớ đến những chiến công lừng lẫy của cha ông,  nhớ đến Vạn Kiếp, Bạch Đằng, đến trận thắng Nguyên Mông ở Vân Đồn thời Trần. Cuộc kháng chiến ấy, do nhị quyền (sử đã ghi là hai vua: Thượng hoàng Trần Thánh Tông và vua Trần Nhân Tông) chỉ huy, Hưng Đạo Đại Vương Trần Hưng Đạo điều binh khiển tướng. Trận thắng ở Vân Đồn, công của Trần Khánh Dư lớn lắm. Là một vị vua, nên Lê Thánh Tông luôn nhớ đến hoàn cảnh của nhị quyền (hai vua) thời ấy:
   Từ đó, suy ra: câu 3, tam củ (tam cổ) là ba trống, con số ba là ước lệ. Đó là những tiếng trống thúc quân đánh giặc; câu 4: tín thủ là các tay chân, thủ lĩnh được tin cậy, ví dụ Trần Quốc Tuấn, Trần Quang Khải… ; tốn (bộ kỷ) là lánh, nhường (Từ điển Hán Việt Đào Duy Anh có giải thích: tốn hoang là lánh đến nơi hoang dã), nói đến lúc hai vua tạm lánh. Câu 5: Thần Bắc, nơi cung điện ở đất Bắc, chỉ Long thành, nơi then chốt, quân ta (lữ) nhiều mãnh hổ (Trần Hưng Đạo, Trần Quang Khải, Trần Nhật Duật, Phạm Ngũ Lão… ). Câu 6: Hải Đông  khi giặc tới, núi núi đốt lửa, tức (bộ tâm) làm tiêu hao, làm tan hết sương mù (yên) - bầy lang sói… Dịch thơ :

Triều tự trăm dòng, sóng nhặt khoan
Đảo liền mây biếc, thế ai dàn?
Thúc dồn ba trống tâm hùng dội
Đưa lánh nhị quyền, trận sấm ran
Cung Bắc, chốt then nhiều hổ mạnh
Biển Đông đốt lửa, lũ sài tan
Trời Nam sông núi bền muôn thuở
Gìn võ, giờ đây lo chính văn.

                                DUY PHI dịch  

 (Dịch bài thơ, thấy ý câu cuối hợp với thời điểm lúc viết mà không hợp với bây giờ. Các câu khác rất hào mại, sáng rõ, thể hiện lòng tự hào dân tộc. Bài thơ không có tiêu đề, căn cứ vào nội dung, Hải Đông nay thuộc thành phố Hạ Long, có thể đặt tên bài: HẠ LONG CẢM HOÀI).  
    Từ có bài thơ này, núi Truyền Đăng đã được gọi là núi Bài Thơ.
   Nói đến bài thơ trên, người ta thường nhớ đến bài thơ cổ thứ hai, khắc trên vách núi Bài Thơ. Vào mùa xuân năm 1729, chúa An Đô Vương Trịnh Cương cũng đem quân đi tuần qua đây, đọc bài thơ của vua Lê Thánh Tông, chúa bèn làm một bài thất ngôn bát cú, giữ nguyên năm chữ: xuyên, thiên, quyền, yên, niên trong bài thơ của vua Lê Thánh Tông, theo đúng luật hoạ thơ.   
  Trong cuốn Trịnh gia chính phả, Trịnh Như Tấu soạn có in bài thơ. Trịnh Như Tấu người Phủ Lạng Thương, nhà xưa bên hồ Thùng Đấu. Từ chỗ tôi đến đó chỉ vài trăm mét. Trịnh Như Tấu đỗ tú tài toàn phần, từng làm tham tá toà sứ Bắc Giang, Hưng Yên… , sau làm việc kiểm duyệt báo chí ở phủ thống sứ Hà Nội. Là hậu duệ của Trịnh Kiểm, Trịnh Tùng… Trịnh Cương… , cùng với làm mấy cuốn: Bắc Giang địa chí, Hưng Yên địa chí…, ông đã hoàn thành cuốn Trịnh gia chính phả vào năm 1932 (nhà in Ngô Tử Hạ ấn hành năm 1933). Mở đầu phần giới thiệu thơ chúa Trịnh Cương, soạn giả Trịnh Như Tấu đã viết mấy dòng xuất xứ:  
  Vịnh Hạ Long thuộc tỉnh Quảng Yên. Một vùng nước biếc, một giải non xanh lô nhô giữa dòng, trong có nhiều hang động, trông xa lóng lánh như ngọc châu. Cảnh trí thực là thanh nhã. Cái khéo thiên nhiên của tay thợ Tạo, không bút nào tả hết được! Thực là một nơi đại thắng cảnh trong nước Việt Nam, mà đã biết bao qua lại khách Đông Tây!
   Tiếp đó in 73 chữ Hán, văn biền ngẫu đề dẫn và 56 chữ bài thơ thất ngôn của chúa Trịnh Cương:  
                              
Minh hạnh vô nhai hồi tổng xuyên
Sơn liên long thuỷ, thuỷ man thiên
Thần kỳ mạc trạng an bài chưởng
Hàm nhuận nan danh hoá dục quyền
Đại viễn thượng di cầm Thát xú
Xuân quang điệp kiến lạn hoa yên
Tái tuân lục dự phu đoài duyệt
Quần hỗ hàm ca hải án niên.
    Trong sách Trịnh gia chính phả có bản dịch thơ:
Bờ cõi mênh mang, rốn bể Đông
Núi liền trên nước, nước trên sông
Thợ trời xếp đặt từ bao tá?
Ông Tạo vun trồng, có phải không?
Phong cảnh còn truyền nơi sát Thát
Xuân quang như thể chốn non Bồng
Theo tuần du dự yên hầu độ
Bát lái hò khoan thoả một lòng. 
   Bản dịch thơ trên dùng nhiều từ cổ, vẫn khó cho bạn đọc thời nay. Gần đây, tôi có được xem một bản dịch xuất hiện trên mấy trang mạng, trong đó có những câu tả biển rất hào nhoáng: Bây giờ sáng loáng bóng hoa bay, đang nói biển lại nói sông: Trên sông quân tướng đều vui cả… 




       Chúng tôi trình bản dịch thơ mới: 




Muôn sông tụ lại một mông mênh
Núi non liền nước, nước mây duềnh
Kỳ diệu, tay Thần dường ngẫu hứng
Dạt dào, ông Tạo thật uy linh
Dấu còn, đời trước Nguyên tan tác
Trùng điệp nắng xuân khói biếc xanh
Thuyền chở quân vui tuân lệnh duyệt
Hò khoan vang dội biển thanh bình.



                               DUY PHI dịch 
 
   Bài hoạ thơ của chúa Trịnh Cương đạt ý mà niêm luật chỉnh. Núi sông gấm vóc là một nguồn của thi hứng, nhưng chính thi ca cũng tạo cho sông núi thêm phần danh tiếng, thiêng liêng, kỳ thú. Thật mừng, vịnh Hạ Long - có núi Bài Thơ, hai bài thơ cổ - lại mới được xếp trong bảy kỳ quan tiêu biểu của thế giới. 
                                                                                                                                                      D.P