Trích : Chữ chạy, cỡ chữ=20

Nguyệt xuyên há dễ thâu lòng trúc / Nước chảy âu khôn xiết bóng non - NGUYỄN TRÃI

Thứ Năm, 13 tháng 10, 2011

CHÙM THƠ ĐÀM THẾ DU (THÁI NGUYÊN)




                                                                           
                                              CẢNH HỒ NÚI CỐC- THÁI NGUYÊN 



ĐÀM THẾ DU


   Quê Mai Động, Hương Mạc, Từ Sơn, Bắc Ninh. Định cư tại TP Thái Nguyên.
Từng nhiều năm dạy học, làm Chủ tịch Hội VHNT Thái Nguyên.
Đã xuất bản các tập thơ:
Nơi ấy, Thao thức, Người ơi… 


THỨC DẬY

Vừa mới qua Khe Tiên
Bắt gặp ngay Khe Đậy
Trắng trời dòng thác chảy
Một vùng còn hoang sơ.

Giữa Khe Đậy ngẩn ngơ
Nơi đây trong lành quá
Tiếng chim giục hoa nở
Con người gần nhau hơn.

Tắm mình giữa thiên nhiên
Thấy lòng thêm nhân hậu
Trôi đi điều phiền não
Lắng lại hồn trong ngần.

Những giờ phút hoá thân
Cùng đất trời Khe Đậy
Có bao điều thức dậy
Con Người sống Người hơn!…


MỘT THOÁNG THÁP MƯỜI

Về với Đồng Tháp Mười
Được biết mùa nước nổi
Giữa mênh mông Tháp Mười
Thấy thời gian rất vội.

Muốn có gạo
Chèo thuyền đi tới
Nhịp chèo khua
Thúc rụng đầy thuyền.

Ngồi lai rai bầu bạn với thiên nhiên
Bẻ cành cây nướng con cá lóc
Bắt con rắn, lấy trứng rùa… đem luộc
Sẵn rượu tiêu… giữa sóng nước vẫy vùng.

Một câu hò làm lay động lạch - sông
Phút huyền diệu giữa bưng biền Đồng Tháp
Như bắt gặp hương hồi Việt Bắc
Cứ thẳm sâu trong bát ngát rừng tràm…




                                                                          



VẾT CHÂN TRĂNG

Sau mưa mặt đất non tơ
Trăng mềm mại trải vàng như lụa
Chúng mình chia tay trong nỗi nhớ
Em về bước lên trăng mênh mông...

Em đi rồi để lại dấu chân
Trăng lưu luyến dành nhiều ánh sáng
Anh ngẩn ngơ nhìn
                            vết chân lấp loáng
Đi vào lòng anh
                       những bước chân trăng.







Thứ Ba, 11 tháng 10, 2011

NHỚ KHA VẠN CÂN, TA YÊU CÁ SẤU...




                                                                    




TA YÊU
CÁ SẤU… 

                                                                                         DUY PHI 

        Sợ nhất là lúc quá nhàn rỗi, không biết làm gì, đem mấy bài thơ chữ Hán ra dịch, viết mấy bài báo đưa lên mạng, ngong ngóng chờ email, chớ comment của bạn bè, lại có ngày buồn đem chữ nghĩa ra mà đặt đi xếp lại cho thành bài thơ đọc xuôi, đọc ngược, đọc bỏ ở đầu mỗi dòng hai chữ… Sản ra những bài thơ như kiểu Ý XUÂN (hoa đào rực nở khắp xa gần/ nhẹ phất mưa lan cỏ biếc nhuần/ nhà trước rộn nêu chuông coóng coóng/ bếp trong hồng bánh lửa rân rân/ ca thi hứng tuyệt khôn dồn túi/ điệu nhạc hồn siêu khó bắc cân/ tha thiết ơi hình thương bóng nhớ/ pha phôi chẳng thể một tình xuân). Lại nhớ, Hàn Mặc Tử có những lúc cũng phải làm loại thơ này. Để lấp đi sự trống rỗng chăng? 
   Năm 2009, tôi được một chuyến đi Thailand. Mình tự thưởng mình. Được mấy bài thơ tứ tuyệt du ngoạn thú vị:
Tặng lứa đôi có tuần trăng mật tại Pattaya
Chiều, lên dù lượn biển/ Tìm thượng giới lưng mây/ Đêm, tàu em cao tốc/ Biết thiên đường trong tay…
Quên:
Ngàn vạn chim bồ nông két mòng phượng yểng/ bốn phía chẳng lưới vây/ quen vị ăn sẵn cấp/ quên trời không bay. 
Bài thơ Tìm địa chỉ không biết là thể loại nào:
Máy bay hếnh cánh/ Vào thủ đô Hằng Nga/ Phố phố giăng giăng/ Triệu cư dân mây trắng/ Tìm ai? địa chỉ nào?/ Tôi tìm phố Nữ Oa/ Nhà ông Sấm.  
Mãi đến tháng 4/ 2011, tôi mới có thêm chuyến du ngoạn gần hai ngàn cây số. Vũ Từ Sơn rủ tôi đi Thành phố Hồ Chí Minh, lại lên Lộc Ninh thuộc tỉnh Bình Phước- miền Đông Nam Bộ, giáp Campuchia. .
Tôi đến Sài Gòn đã năm lần. Lần đầu, từ Bắc vào, cuối năm 1975; lần 2 từ An Giang ra: cuối năm 1977; lần 3, đi trại viết Vũng Tàu lên, năm 2004; lần 4, ở Sài Gòn đi Tây Ninh, 6/ 2007, mang hài cốt liệt sĩ Nguyễn Duy Khánh- người em ruột về! lần 5 này, một tuần, tháng 4/ 2011… Mỗi lần đến Sài Gòn, một lần “mở mắt”. Lần đầu, như sang một đất nước khác, còn lần này, chúng tôi biết thêm khu căn cứ Tà Thiết, nơi Bộ chỉ huy Miền, hầm lán của tướng Trần Văn Trà, tướng Nguyễn Thị Định, nơi thường có mặt của tướng Hoàng Cầm. Từ đấy mà tôi hiểu thêm, có ba ông Hoàng Cầm cùng thời đều nổi tiếng.  . .
 Hoàng Cầm - Nhà Thơ (1920- 2010), sinh tại Phúc Tằng, Bắc Giang (quê gốc Thuận Thành, Bắc Ninh), hồi nhỏ học tại Phủ Lạng Thương, sau lại dạy học tại đó. Trong kháng chiến chống Pháp, Hoàng Cầm vào quân ngũ. Với tài năng làm thơ viết kịch, ông được cử làm Trưởng đoàn văn công Tổng cục chính trị. Ông là tác giả củâ các vở kịch thơ: Hận Nam Quan, Kiều Loan…, là tác giả của nhiều bài thơ độc đáo, trong nền thi ca Việt: Lá Diêu bông, Cây tam cúc… Mấy câu thơ: Bên kia sông Đuống/ Quê hương ta lúa nếp thơm nồng/ Tranh Đông Hồ gà lợn nét tươi trong/ Màu dân tộc sáng bừng trên giấy điệp…, bọn tôi thuộc từ hồi đang đi học.  
Hoàng Cầm - Đại uý (1916- 1996), quê Trực Đại- Nam Định. Vào quân ngũ, mới đầu Hoàng Cầm là anh nuôi cho quân y tiền phương, Đội điều trị 8, Sư đoàn 308. Khoảng năm 1951- 1952, ông đã sáng tạo kiểu bếp đun không khói, tránh máy bay giặc phát hiện. Trong suốt hai cuộc chiến, kiểu bếp Hoàng Cầm được nhân rộng, xuất hiện từ Điện Biên Phủ, đến dọc Trường Sơn, Nam Bộ… Hồi đi trại viết ở Tam Đảo, Chu Ngọc Phan có đi thăm mộ ông Hoàng Cầm - bếp, có bài thơ tưởng nhớ: Mộ ông đặt dưới vòm thông/ Chung chiêng Tam Đảo, bềnh bông võng trời/ Bếp Hoàng Cầm lửa tắt rồi/ Bữa cơm trận mạc ven đồi vẫn thơm… 

Hoàng Cầm - Thượng tướng quê Ứng Hoà (Hà Tây, nay thuộc Hà Nội), sinh năm 1920. Giai đoạn cuối cuộc chiến tranh chống Mỹ, Thiếu tướng Hoàng Cầm làm Tư lệnh Quân đoàn Bốn (còn gọi là Binh đoàn Cửu Long, gồm 2 sư đoàn bộ binh, 1 trung đoàn pháo binh, 1 trung đoàn phòng không, 1 tiểu đoàn đặc công, 1 trung đoàn thông tin). Hoàng Cầm được giao trọng trách, phối hợp với một số đơn vị khác, giải phóng Phước Long, Bình Long, Dầu Tiếng…,  mở hành lang bao vây Sài Gòn,  giải phóng Đồng Xoài, đập tan Cánh cửa thép tử thủ Xuân Lộc… Khi anh Bùi Quang Thận cho tăng 843 và tăng 390 phá được cửa thép, cắm được cờ giải phóng trên nóc dinh Độc Lập, xem đòng hồ là 11g 30 phút; thì 13 g 30phút, tướng Hoàng Cầm đã có mặt tại dinh ấy. Ngay đêm 30/ 4 ông nghỉ tại dinh Độc Lập, ngỡ như mơ, định đánh một giấc cho đã, song không sao ngủ được…  
  Chuyến Hành phương Nam 2011, chúng tôi có dịp tiếp xúc với nhiều đại gia, nhiều người thành đạt hoặc đang khởi sắc. Đó là những người Kinh Bắc vào công tác, làm ăn, lập nghiệp: Trương Văn Phúc (Chủ tịch huyện), Nguyễn Đức Hưng (Phó Tổng Giám đốc một công ty… ), Vũ Văn Hường (Chủ Nhà hàng Cây Sứ), Nguyễn Hữu Vịnh (chủ xưởng gỗ mỹ nghệ), Vũ Văn Tuấn (Thương nghiệp), Nguyễn Hữu Dương (Quản lý nhiều công trình xây dựng), Vũ Văn Minh, Nguyễn Duy Bình…            

   Chúng tôi ở tại hotel Tân Thiên Hương, thuộc khu vực có trại nuôi cá sấu, loại cá sấu da nó lốm đốm như hoa cà, đường Kha Vạn Cân quận Thủ Đức, Thành phố Hồ Chí Minh. Đến nay, nhà thơ Vũ Từ Sơn đã có các tập thơ: Một chặng đường, Hương sắc thiên nhiên, Gửi gió… Đi suốt mà Vũ Từ Sơn vẫn làm được một chùm thơ mới, đi trên sông Sài Gòn , anh lại lại sửa bài thơ về sông Thương: Thương em vượt cạn mấy lần/ “Đang đông buổi chợ” tảo tần nắng sương/ Trời làm “lũ quét” dòng Thương/ Nửa đau ra biển, nửa buồn ngược đâu… Bài thơ đạt ở chỗ gợi tưởng xa rộng.

   Mỗi lần đến Sài Gòn, một lần “mở mắt”. Yêu sự trù phú, phóng khoáng của người dân Sài Gòn, tôi cũng viết được vài bài thơ, có một bài thơ viết trong mộng. Trên lối vào hotel Tân Thiên Hương có cây sa- kê lá to bằng chiếc quạt lá gồi mà xanh biếc và o- sa- ca cả cây hoa vàng diễm lệ. Cả hai loại cây này đều có nguồn gốc từ Nhật Bản. Yêu cái tên Cá Sấu Hoa Cà, yêu cây lạ, mà tôi có bài thơ kỷ niệm, tặng bạn.     




                                                                                   
                                                           HOA   O- SA - KA          


TA YÊU CÁ SẤU…

Ta về Cá Sấu Hoa Cà
Rẽ đường Bốn Chín vào toà Thiên Hương
Bóng ai thương thật là thương
Đã vô đây khó tìm đường mà ra

Ta về Cá Sấu Hoa Cà
Rượu tìmh mới nhắp đã ngà ngà say
Ông Tơ bà Nguyệt khéo thay
Ngày vơi lãng đãng đêm đầy thi ca

Ta về Cá Sấu Hoa Cà
Ngõ sa- kê biếc, o- sa- ca vàng
Đứt dây, nối lại nên đàn
Tiếng ty tiếng trúc sắt vàng giao thoa.

Ta yêu Cá Sấu Hoa Cà…

    Đến nay, về Bắc đã lâu, mấy lần đến Sài Gòn, tôi còn thấy như trong mộng.


Chủ Nhật, 9 tháng 10, 2011

THƠ KIM Ô TRONG TẬP PHẬN ĐÈN





                                                                      



                    N T. KIM Ô                   


Tên khai sinh: Nguyễn Hồng Nguyên, quê gốc Dĩnh Kế, Thành phố Bắc Giang. Sống và viết tại Lục Nam, Bắc Giang.  Hội viên Hội VHNT Bắc Giang.  
   Tác phẩm chính – Thơ:
* Hương đất (3 tác giả) - Hội Văn học Nghệ thuật Hà Bắc, 1984.* Đồng hành (In chung) - Hội Văn học Nghệ thuật Bắc Giang, 2002 * Lặng lẽ vầng trăng - NXB Hội Nhà văn, 2005 * Chạm vào xa xanh - NXB Hội Nhà văn, 2008.

TAM THANH
Chùa trong núi với muôn hình cảnh sắc
Dòng người đi hương khói ước trăm điều
Ơn trái núi rỗng mình ra hoá động
Để cho đời có khoảnh khắc phiêu diêu.   


                                                                   


CÂY
Này mầm cây mọc khắp nơi
Sống yêu một chỗ suốt đời thuỷ chung
Tán xanh che mát một vùng
Trọn niềm dâng hiến tận cùng đời cây.


CHẠY
Kẻ giàu chạy theo đồng tiền
Thanh niên chạy theo mốt mới
Già rồi…
Chạy ngược thời gian.  


THÍ THÂN
Đời ngắn ngủi giữa biển đời tăm tối
Kiếp phù du đâu chịu sống hèn
Ôm ao ước khát thèm ánh sang
Nên thí thân lao thẳng chết trong đèn
   
ĐỀN THỜ VẾT CHÂN

Đền thờ làng tôi thờ một vết chân
In hằn lên phiến đá
Một dấu chân người to kỳ lạ…
Phiến đá thành ngôi đền.

Không biết nơi gọi là đền này
                                  đã có bao năm
Chắc từ xưa khi cha ông mới lập ấp làng
Cả dân tộc mình đánh Nam dẹp Bắc
Đi những bước dài lên mãi xa xăm.

Ngày 10 tháng tư hàng năm làng mở hội
Khắp khu rừng toả khói thơm hương
Cả làng quỳ sụp quanh phiến đá
Khấn niệm dấu chân thần.

Dân mình thờ cúng một vết chân
Với ước mong con Lạc cháu Hồng
Đường đời mãi mãi còn đi
Đi xa
Đi mãi.
                  
-----
* Tại rừng Thờ (làng Mẫu Sơn, Chu Điện, Lục Nam) thờ dấu một bàn chân người to trên phiến đá bằng hai chiếc chiếu…
                 


Thứ Sáu, 7 tháng 10, 2011

TOMAS TRANSTROMER - Nhà thơ Thụy Điển đoạt giải Nobel Văn học

    

   Tomas Transtromer 



     Ông sinh năm 1931 tại Stockholm, là nhà văn, nhà thơ, dịch giả nổi tiếng thế giới. Ông còn là nhà tâm lý học. T. Transtromer đã xuất bản hơn 10 đầu sách, trong đó có những tác phẩm như Windows and Stones (1966), Baltics (1974), The Great Enigma... Tác phẩm của ông đã được dịch ra hơn 50 thứ tiếng và có tầm ảnh hưởng toàn cầu, đặc biệt là ở các quốc gia Bắc Mỹ.


Nhà thơ Tomas Transtromer và một tuyển tập nổi tiếng của ông.


Với chiến thắng tại giải Nobel, Tomas Transtromer sẽ nhận được khoản tiền mặt trị giá 1,5 triệu USD (30,7 tỷ đồng). Lễ trao giải sẽ diễn ra vào ngày 10/12 tại Stockholm (Thụy Điển).



Nguồn: Evăn




Gửi email trang này cho bạn bè

Thứ Năm, 6 tháng 10, 2011

THƠ BA CÂU - NGUYỄN ANH NÔNG




                                                                                                                                                         

N T NGUYỄN ANH NÔNG



Sinh: 1959. Quê: Quảng Xương, Thanh Hoá. Hội viên các Hội: Hội Nhà Văn VN, Hội Nhà báo VN, Hội Văn học Nghệ thuật các D.T.T.S.VN, Hội Nghệ sĩ Điện ảnh VN, Chi hội Nhà văn Quân đội. 
                     Sách đã in:
BÀN TAY LÁ CỎ (TẬP 1), BÀN TAY LÁ CỎ (TẬP 2), KỴ SỸ NGỰA GỖ ( THƠ VIẾT CHO THIẾU NHI), MÂY BAY, NHỮNG THÁNG NĂM Ở RỪNG, TRƯỜNG CA TRƯỜNG SƠN, LỮNG THỮNG XANH, TRƯỜNG CA GỬI BIN GHẾT ( BILL GATES)& TRỜI XANH... 

ĐTM giới thiệu chùm thơ 11 bài trong số 367 bài thơ Ba câu, tập thơ LỮNG THỮNG XANH - NXB Văn học, 2010. Một cách đổi mới, sáng tạo. 


1
Gã nông dân rất hay
Bụng to, đầu to, miệng rộng
Nuốt chửng cả trời sao.

2
Đôn hậu hiền lành
Thơ cũng lành cũng thật như đếm
Ăn mày năm tháng xa.

3
Rượu bia thường sùi bọt
Thơ bay tít tắp nắng lên hương
Mặt trời mọc từ bụng.

4
Yêu quê hương hồn nhiên
Chỉ quê mình mới đẹp, mới xinh
Xứ người toàn… đồ “đểu”.

5
Tha hương bỏ mặc em
Áo cơm xứ người lạnh tâm can
Đôi khi chẳng là mình.

6
Ngỡ đời suôn sẻ mãi
Gió bay gặp tường cao, núi dựng
Loay xoay vòng trời hẹp.

7
Ôi trái tim Đan Kô
Rực sáng trời chân lý ngàn năm
Chúa cũng hay ngái ngủ.

8
Mọi sự thật đều cay?
Như bát ớt đổ vào cuống họng
Ai sặc sụa nỗi buồn.




                                         Tam Đảo                         

9
Ba Vì hay Tam Đảo
Em đứng ngóng chờ ai, hỡi em
Gió mưa bao giờ tạnh.

10
Ai bứng em khỏi anh
Ai bứng hoa trồng trên đỉnh núi
Anh bỗng hoá dại điên.

11
Biển mênh mông là gì
Trời kia chẳng bao giờ sánh được
Tình yêu anh và em…







Thứ Ba, 4 tháng 10, 2011

CÂU ĐỐI "NHẤT SINH ĐÊ THỦ BÁI MAI HOA " ...





                                                                          




                                           NGUYỄN KHÔI 



          CÂU ĐỐI "NHẤT SINH ĐÊ THỦ BÁI      MAI HOA "
     CÓ PHẢI CỦA CAO BÁ QUÁT ?
                              
Trong tạp chí Diễn đàn văn nghệ VN số 3/2006, nhà thơ nổi tiếng Phạm Tiến Duật (Tổng biên tập) có đăng bài thơ “cây mai trắng trong phòng Tổng Biên tập” tặng nhà văn, thiếu tướng Hữu Ước, có dẫn ở phần “đề từ” câu đối của Cao Bá Quát :

Thập tải luân giao cầu cổ kiếm
Nhất sinh đê thủ bái mai hoa

Dịch là :

Mười năm lặn lội tìm cây kiếm cổ
Một đời chỉ biết lạy hoa mai.

Theo các tài liệu đã được các nhà nghiên cứu tiền bối công bố, thì đôi câu đối trên có xuất xứ như sau :

Theo “Như Thanh Nhật ký” năm Mậu Thìn (1868) vua Tự Đức cử đoàn sứ bộ sang triều cống nhà Mãn Thanh : cầm đầu là chánh sứ Lê Tuấn (đỗ Hoàng Giáp năm 1853); phó sứ là Nguyễn Tử Giản (Hoàng Giáp năm 1884); phó sứ thứ 2 là cử nhân Hoàng Tịnh.
Hành trình của sứ bộ theo lối xưa từ ải Nam Quan đến Yên Kinh “bộ khôn bằng bộ, thuỷ khôn bằng thuyền” mất 181 ngày (lưu trú 64 ngày đi 117 ngày trong đó 44 ngày đường bộ, 73 ngày đường thuỷ). Khởi hành ngày 1/8 Mậu Thìn, sau 125 ngày thì đến huyện thành Hà Dương tỉnh Hồ Bắc, ở đó đoàn Sứ bộ Việt Nam được viên tri phủ Hán Dương là Ngải Tuấn Mỹ đón tiếp và tặng đôi câu đối cho chánh sứ Lê Tuấn :

Hữu Khẩu tu ngôn thiên hạ sự
Kháng hoài bất nhượng cổ chi nhân

Tạm dịch :

Có miệng nên nói việc thiên hạ
Nghị lực không chịu nhường người xưa.

Câu đối tặng Nguyễn Tử Giản :

Thập tải luân giao cầu cổ kiếm
Nhất sinh đê thủ bái mai hoa

Tạm dịch :

Mười năm chọn bạn như tìm thanh kiếm cổ
Một đời chỉ biết cúi đầu lạy hoa mai

Câu đối tặng Hoàng Tịnh:

Truyền thần cổ hữu Lý Tư Huấn
Vấn tự kim vô Dương Tử Vân

Tạm dịch :

Truyền thần xưa có Lý Tư Huấn
Hỏi chữ nay không Dương Tử Vân.

Sự kiện trên được chép trong “Yên thiều bút lục” của Nguyễn Tử Giản (1823-1890) sách viết tay của thư viện khoa học Trung ương, số A.852 tờ 18a-b; Cứ liệu trên đã được các học giả Tảo Trang và Hoa Bằng đưa ra trên tạp chí văn học số 2-Hà Nội năm 1972, trang 61 và 64).

Câu đối “... bái mai hoa” của Ngải Tuấn Mỹ tặng Nguyễn Tử Giản là vào năm 1868, trước đó 14 năm, Cao Bá Quát đã hy sinh trong cuộc khởi nghĩa Mỹ Lương (Giáp Dần 1854)... phải chăng người đời do quá yêu Cao Chu Thần nên cứ thích tương truyền câu “nhất sinh đê thủ bái mai hoa” là của ông như một giai thoại để đời ?


Góc Thành Nam-Hà Nội ngày 5-12-2006 



Thứ Hai, 3 tháng 10, 2011

CHÙM THƠ TRỊNH DUY SƠN


                                                                     

                                                                   
NB NT TRỊNH DUY SƠN     


                 TRỊNH DUY SƠN


Quê: Chi Lăng, Quế Võ, Bắc Ninh. Định cư: Quận Tân Bình, TP Hồ Chí Minh. Một cựu chiến binh. Hội viên Hội Nhà báo Việt Nam.
Tác phẩm: Tôi đã về người ơi (Thơ, NXB Văn học - 1995), Tiểu đội tôi giữ chốt (Ký), Ngày ấy bây giờ (Thơ, NXB QĐND - 2010)... 
Đầu tháng Chín vừa rồi, Nhà báo TRỊNH DUY SƠN ra Bắc công tác 15 ngày, nhân đó lên Bắc Giang thăm "Trụ sở" của ĐTTT, thăm bạn hữu Cựu chiến binh... ĐTTT  giới thiệu chùm thơ mới nhất.



GỬI VỀ KINH BẮC

Sầu riêng vào vụ chí rồi
Ai về Kinh Bắc cho tôi nhắn cùng
Sầu riêng mong được vui chung
Đừng nhìn trái dụng mà không đoái hoài
Đừng chê thứ quả lắm gai
Thoảng hương sầu chớ nhạt phai hương tình.
Quả gai ta gửi cho mình
Mong ai nếm thử cho tình thêm men
Xin đừng chê quả lấm lem
Chắt chiu hương đất quyện thêm hương trời.
Đêm nằm nghe quả rụng rơi
Càng yêu cuộc sống càng vơi nỗi sầu
Cho dù trôi dạt nơi đâu
Chớm tới mùa sầu lại nhớ tình quê
Trăm năm trong cõi đi về
Gánh sầu ai bán ai chê mặc người

Sầu riêng không của riêng tôi
Gửi sầu ra đợi niềm vui gửi vào.

KIÊN GIANG

Bao lần trở lại Kiên Giang
Mà lòng vẫn cứ xốn xang bồi hồi
Những mong thấy được đất trời
Mênh mông biển biếc cao vời núi non
Căn nhà mái lá chon von
Giữa cồn đất nổi sóng dồn gió lay
Ruộng đồng thẳng cánh cò bay
Bên kia rừng đước bên đây rừng tràm
Mùa khô kênh rạch dọc ngang
Mùa mưa nước ngập mênh mang bến bờ

Đoá sen từ nước vươn ra
Hương thơm toả khắp gần xa đợi người.



HÁT CÙNG VỚI ĐÁ

Cha về xẻ đá trên non
Xây nền móng tạo cho con vào đời
Bước qua độ tuổi sáu mươi
Sức cha giờ đã chơi vơi ít nhiều
Cha gom chút ánh nắng chiều
Tạo nên ráng đỏ phiêu diêu nhạt nhòa …
Mong rằng con hiểu ý cha
Đừng chê đá cứng mà sa đầm lầy
Hãy nghe đá hát câu này
“Có công mài sắt có ngày nên kim”
Từ trong lòng đá ta tìm
Cội nguồn dân tộc dáng hình nước non
Cho dù bia đá có mòn
Thì lời của đá vẫn còn ngân vang
Bao người đem lửa thử vàng
Còn tôi thử sức thi gan với trời .

Xin cùng đá hát đá ơi !...