Trích : Chữ chạy, cỡ chữ=20

Nguyệt xuyên há dễ thâu lòng trúc / Nước chảy âu khôn xiết bóng non - NGUYỄN TRÃI

Thứ Tư, 7 tháng 9, 2011

CHÙM THƠ THƯƠNG GIANG - VŨ TUYẾT NHUNG (UCRAINA)



Trái sang: THƯƠNG GIANG đầu tiên...
                                                                            


THƯƠNG GIANG
(Vũ Tuyết Nhung)

Sinh ngày 2/7. tại Bắc Giang. Là thạc sĩ ngôn ngữ - 
Tốt nghiệp Đại học Tổng hợp ngôn ngữ Kiev - Ucraina. Đã có thơ in trong tuyển tập “Việt Nam quê hương tôi”, Hội Nhà văn Việt Nam, năm 2000. Thơ và truyện ngắn của Thương Giang thường xuyên được đăng trên tạp chí “Tuần tin quê hương” (Ucraina). Ngoài ra, còn có thơ đăng trên báo điện tử “Người bạn đường” của người Việt tại Nga và trang báo “Việt Nam thư quán”,báo "Người Việt-Kharcốv"... 
Hiện định cư tại Kiev-Ucraina...

THƯƠNG GIANG MỚI XUẤT BẢN TẬP THƠ
HOÀI NIỆM HỘI LIM
Lời tựa của 
Nhà thơ Đặng Vương Hưng


NGẠI NGẦN...

Giờ đây tóc đã điểm sương.
Nửa đời xa xứ còn vương tình này...
Về đi!...Chợt thấy mắt cay.
Trăm năm tình cũ ... mãi vay nợ người...

Chiều nay thầm gọi :Huế ơi!
Sông Hương trầm mặc... chơi vơi câu hò...
Xứ người lạc bước ngẩn ngơ.
Nhớ về nơi ấy bây giờ đang Xuân...

Tháng Ba e ấp ngại ngần.
Giấu hương Xuân chín để phần người xa...
Hàng me lối cũ mình qua.
Vấn vương kỷ niệm ...chiều sa giọt buồn...

Mưa như nước mắt dỗi hờn.
Biết rằng nơi ấy...lòng son vẹn thề...
Nhưng mình bỏ xứ xa quê.
Bây chừ người đợi ,dám về nữa đâu...

Kiev 20/3/2010-TG





NGƯỜI XƯA...

Mắt buồn dõi cánh chim trời.
Mờ xa hun hút có người đợi trông...
Vẳng lời ru :"Lá diêu bông..."
Nao nao nỗi nhớ ...những mong trở về...

Còn trong ký ức bóng quê.
Cây đa ,bến nước ,bờ tre đầu làng.
Hoa xoan tim tím dịu dàng.
Lối về gió thoảng nhẹ nhàng hương cau...

Lơ thơ một dải sông Cầu.
Ngọt câu quan họ :"Mời trầu ","Còn duyên"...
Bao năm xa xứ chẳng quên.
Đêm trăng hò hẹn thề nguyền lứa đôi...

Xưa người hát khúc :"Bèo trôi".
Để mây phiêu bạt xa xôi nẻo nào...
Đắng lòng ,bẻ khúc ca dao.
Gói lời buồn tủi gửi vào câu thơ...

Lang thang trong cả giấc mơ.
Người xưa ước hẹn bây giờ tha hương...

Kiev 21/03/2010-TG

DUYÊN...

"Còn duyên kẻ đón người đưa
Hết duyên đi sớm về trưa mặc lòng..."*
Giờ nhắc chi:"Lá diêu bông."*
Người xưa môi thắm má hồng còn đâu...

Đò chiều nên ngại nông sâu.
Nẻo về xa lắc...một mầu khói sương.
Mây trôi ,bèo dạt muôn phương.
Chút duyên xưa cũng tàn hương nhạt dần

Mắt nhung u uẩn bụi trần.
Về ư?Bỗng thấy phân vân trong lòng.
Đành rằng bến cũ đợi mong.
Người xưa gom nắng chờ hong mi buồn...

Trăm sông đều đổ về nguồn.
Sông Thương một dải vẫn còn trôi xa.
Thời gian khoảng cách phôi pha.
Ngập ngừng bởi hết mặn mà nét duyên...

Thôi đành bỏ bến bỏ thuyền.
Cởi lời trói buộc thề nguyền năm nao.
Cho người quên khúc ca dao...
"Vầng trăng cắt nửa"...hanh hao cuối trời...

Kiev 22/03/2010-TG

Thứ Ba, 6 tháng 9, 2011

ĐỖ NHẬT MINH VÀ TRUYỆN NGẮN TIẾNG ĐÊM

                                   
                                                         NHÀ VĂN ĐỖ NHẬT MINH



ĐỖ NHẬT MINH

   Sinh tại Xuân Trung, Xuân Trường, Nam Định. Định cư tại Dĩnh Kế, TP Bắc Giang.
Từng dạy học, biên tập sách báo (của Hội VHNT BG).
Hội viên: Hội VHNT Bắc Giang, Hội Nhà báo VN, Hội VHNT các DTTS Việt Nam.  
   Tác phẩm chính:
Các tập truyện ngắn: Trầm hương, Cái lồng sắt, Quán trần gian… Các tiểu thuyết: Tên phỉ cuối cùng, Giã từ đêm quan họ, Thờ ơ và tội ác…
Các tập truyện Thiếu nhi: Câu chuyện một đội kịch, Chú Rô và cô Dế lắm điều… 
Đang in, tập truyện ngắn Trường có cây dã hương và 1 tập truyện Thiếu nhi.  



TIẾNG ĐÊM 

                             Truyện ngắn

Mưa mỗi lúc một dày đặc. Rồi gió. Lúc đầu gió chỉ xào xạc trong rặng cây rồi sau đó ào ào dữ dội. Trong bóng đêm đồi núi, giữa vườn cây rậm rạp, mưa có vẻ hoang dã, bí hiểm. Ông Nhật khẽ trở mình. Nằm cạnh bên, ông Mí vẫn ngáy như sấm. Ví như sấm cũng chẳng đúng. Ông Nhật chưa bao giờ ngủ cùng với một người ngáy như ông ấy. Có lẽ cả nước Nam cũng không ai như ông ta. Tiếng ngáy lúc gầm lên như loạt trọng pháo bắn cấp tập, lúc rên hừ hừ như người ốm làm nũng. Tiếng ngáy lại giống máy trộn bê tông đang hoạt động ở trước cửa, lại tựa tràng súng liên thanh nhả đạn. Tiếng ngáy lúc hổn hển mệt nhọc, lúc rền vang phấn chấn. Ông Nhật không sao ngủ được, đầu óc cứ chập chờn, mông lung, cơ thể như bã ra. Sao ông Mí lại không lên tầng với bà vợ lại cứ nhất quyết ngủ ở đây? Ông giữ ý khi khách đến? Giời ạ, quý nhau thế này khác gì hại nhau. Nhiều người bảo rằng người ngủ ngáy to là ở dạng vô lo vô nghĩ, là thảnh thơi an nhàn lắm, là sung sướng, yên phận lắm. Có thể là thế chăng?
Bữa cơm tối, ông Nhật và ông Mí ngồi ăn uống lai rai suốt mấy tiếng đồng hồ. Giá bà Làn - vợ ống Mí - không mấy lần nhắc, hai ông sẽ ngồi suốt đêm. Hơn hai chục năm mới gặp nhau, họ có bao chuyện muốn kể.
“Ông có hay đến nhà Dụ không? Vợ con Dụ thế nào?” Ông Nhật hỏi.
“Chắc là ổn”. Ông Mí nghiêng lọ rượu rắn, rót tiếp vào cốc.
“Sao lại chắc? Người cùng xã…”
“Tiếng là cùng xã nhưng tôi ở thị trấn đã lâu, lại chuyển lên tỉnh, ít khi về quê. Một lần, tôi đến nhà nó. Hồi ấy con trai nó mới lên ba. Vợ nó vẫn quẩn quanh mấy sào ruộng.”
Ông gắp miếng thịt màu nâu sực nức hương hồi vào bát ông Nhật. “Ông nhắm món mới đi. Đặc sản thú ở đây đấy. Ông thử đoán con gì?”
“Thế Dụ đã được quy tập hài cốt chưa?”
“Chắc là rồi. Nghe nói từ năm 1995, vợ nó với người anh, em chồng vào Nam tìm kiếm. Kìa, ăn đi. Của này là phải ăn nóng.”
Hai chân duỗi thẳng, một tay vắt lên trán, một tay đặt trên bụng, miệng há rộng, ông Mí tiếp tục ngáy, bây giờ là tiếng kêu phì phò phì phạch tựa như bễ lò rèn đỏ lửa. Và chỉ lát sau, tiếng ngáy ấy dõng dạc rống lên rồi trở lại rên rỉ. Ông Nhật cáu kỉnh huých tay bạn: “Ngáy khiếp thế!” Ông Mí giật mình “hả?” và chỉ trong tích tắc lại cất lên tiếng ngáy quái dị.
“Ngọc lém có hay đến chỗ ông không?” Ông Nhật uống tợp hụm rượu, nhìn bạn.
“Mỗi lần, mà cũng lâu rồi, từ hồi tôi còn ở huyện.”
“Hẳn Ngọc vẫn nghèo?”
“Chắc là cũng bi đát. Ba con đều bị nhiễm chất độc da cam”. Ông Mí dơ cao chén rượu. “Nào, trăm phần trăm. Ông cảm thấy món đặc sản tuyệt vời chứ? Tôi cam đoan với ông, quanh mấy tỉnh đây chỉ có chỗ tôi mới có món này.”
Mưa vẫn gầm gào rên rỉ xung quanh nhà. Gió vẫn không ngớt thổi mạnh. Ông Nhật mường tượng những tàu lá như mớ tóc rối tung, rũ rượi đang cuống cuồng trút xuống mặt đất, đang hốt hoảng gào thét tuyệt vọng. Các cành cây bé nhỏ và những cây non đang quặn mình trong dông bão. Mưa theo chiều gió, lúc khoan nhặt, lúc ào ào như thác đổ, lúc lại khẽ khàng như bước chân ai đó đi trên đường. Sao lão ta ngủ say thế nhỉ? Ngủ như chết! Ngày xưa Mí có thế đâu. Anh ta dễ ngủ nhưng dễ thức. Chỉ cần ai hô to một tiếng là Mí vùng dậy, tỉnh như sáo. Ông Nhật muốn dậy từ lâu để ngồi bên ấm chè hoặc xem ti vi băng đĩa nhưng vì không có điện. Ông Mí bảo dạo này ở đây mất điện cách nhật. Nghĩa là sáng mai từ bảy giờ mới có. Chả còn cách nào khác là ông Nhật bực bội lắng nghe tiếng mưa rơi gió thổi và tiếng ngáy hả hê, sung mãn của người cùng tiểu đội năm xưa trong bóng đêm dày đặc ẩm ướt.
Gió vẫn thổi liên hồi. Và mưa vẫn tầm tã. Và tiếng ngáy…
Phải, vẫn tiếng ngáy đủ âm điệu. Vẫn hối hả đều đều buồn tẻ tiếng mưa rơi. Vẫn tiếng gió hoang dã, nặng nề.
Bỗng có tiếng đập gấp gáp trong vườn, có lẽ đó là tiếng va đập của cành cây gãy treo lủng lẳng. Mà cũng không phải. Hình như đó là tiếng vỗ của người khổng lồ trên không trung, lại là tiếng kêu phành phạch của những cành cây nghiêng ngả trong gió. Tiếng ấy lạ lắm. Nó khô khốc, mạnh mẽ, vang động. Nó kêu theo nhịp trống đánh ngũ liên, cứ nhỏ dần nhỏ dần rồi sau đó lặp lại. Nó hổn hển, thổn thức. Nó như tiếng gọi từ cõi xa xăm. Ông Nhật bủn rủn cả người.
Phải, cái đêm ấy, mưa tầm tã mấy ngày…
Cả năm chiến sĩ chui trong cái lán bỏ không. Cái lán ấy không biết của dân hay là của những người lính mở đường. Nó trống huếch trống hoác lợp sơ sài mấy phên nứa và lá trung quân, chỉ cao hơn đầu người, nằm dưới hàng cây um tùm. Các chiến sĩ mắc võng nằm. Bất ngờ một tiếng nổ. Và cũng giống như tiếng nổ, Hoàng Công Dụ hai tư tuổi, quê vùng lúa Thái Bình ngã gục. Thân Văn Ngọc kêu “ối” cùng với tiếng rơi của võng. Tiếp đến là những tiếng súng xa dần. Mấy chiến sĩ nháo nhào ôm súng vùng dậy. Không hiểu đại bác địch bắn từ đâu tới. Chúng bắn vu vơ có ý thăm dò lực lượng ta hay là đã biết một trung đoàn quân giải phòng vừa tiến qua đây?
Cả tiểu đội đi trong mưa giữa bóng đêm ướt đẫm, thổn thức chôn cất người lính vừa mới qua ba năm chiến trường…
Sớm hôm sau toàn đơn vị được lệnh hành quân vào sâu trong rừng. Những ngày ấy mưa không ngớt, lúc rỉ rả lúc xối xả, tịnh không một lúc nào nắng.
Đêm ấy dưới chân núi Đà Lốc. Nằm trên võng, Nhật chập chờn trong giấc ngủ mệt nhọc. Bỗng có tiếng đập phành phạch dữ dội ở đâu đó. Nhật hé mắt nhìn ra. Không thấy hình bóng gì ngoài những hạt mưa mờ tỏ trong ánh sáng ảm đạm hắt ra từ khoảng trống trong rừng. Tiếng kêu cũng im bặt. Giữa lúc Nhật thiu thiu ngủ, tiếng kêu lại bật dậy. Bây giờ là tiếng kêu run rẩy, hổn hển như tiếng người vượt đèo. Anh toan dậy gọi Mí nằm gần bên nhưng đột nhiên tiếng kêu lại im bặt. Anh sợ hãi nhớ tới chuyện về ma rừng bí hiểm đã từng nghe ở một binh trạm. Họ kể rằng ngày xưa người chết ở vùng núi Đà Lốc này không chôn trong đất mà là cho vào quan tài gỗ treo trên cây hoặc cho vào hang núi. Vào ban đêm trời mưa những linh hồn chết cất lên tiếng kêu khủng khiếp để báo rằng lạnh ướt cần sưởi ấm. Ban ngày dù mưa to đến mấy, các vong linh đều tìm được một nơi cao ráo trú ngụ nhưng ban đêm không thể đến được. Vậy là các gia đình vào những đêm mưa gió phải đốt lửa để linh hồn trở về trú tạm, và đó cũng là dịp để luôn nhớ người đã khuất.
Vào ngày như thế cả gia đình không được ngủ để vong linh không bị xa cách, lẻ loi. Người ta bảo tiếng kêu ấy ngày càng nhiều khi vùng đất đây có chiến tranh. Nhật móc trong túi quần chiếc bật lửa Mỹ nặng chịch tìm cách đốt một đống lửa nhỏ nhoi nhưng sực nhớ ra là không thể làm được, và cũng không được phép làm thế ở chiến trận. Nhật khẽ trở dậy, lẳng lặng tới chỗ võng Mí.
“Dậy! Dậy!”
“Cái gì?” Mí tung cửa võng.
“Có tiếng động lạ lắm. Dậy mà nghe!”
Cả mấy chiến sĩ đều tỉnh giấc. Đúng là át tiếng mưa gió là tiếng vỗ đập trên không trung. Tiếng vỗ ấy tựa như đập chiếu trên mặt nước, lại cũng giống như tiếng chân giẫm mạnh trên tấm tôn mái nhà. Rồi âm thanh đó đột nhiên biến mất. Và cũng từ ngày ấy cho tới hết chiến tranh, Nhật chẳng bao giờ nghe tiếng đêm bí hiểm này. Lắm lúc anh nghĩ đó chỉ là trong giấc mơ, là hoang tưởng của người lính trên chiến trường khốc liệt.
Ông Nhật trở dậy. Nằm bên, ông Mí vẫn thản nhiên vang rền tiếng ngáy. Ông bấm xoáy bả vai ông Mí.
“Dậy! Dậy!”
“Cái gì?” Ông Mí làu bàu.
“Dậy ngay!”
“Trộm à?” Ông Mí hốt hoảng.
“Nghe tiếng gì chưa?”
Đúng là có tiếng va đập rất mạnh trên không. Tiếng kêu ấy như bàn tay khổng lồ vỗ vào thân cây. Nó như tiếng trống đánh trong rừng sâu vọng tới. Nó như tiếng kêu từ trong lòng đất được thoát ra ở một lỗ thông hơi. Nó như bước chân của đoàn người đi trên con đường khô cứng sỏi đá. Nó như tiếng gọi thổn thức từ trong hang đá, hốc cây. Âm thanh hỗn độn ấy thân quen mà xa lạ, gần mà xa, rất thực mà cũng rất bí hiểm.
“Ông nghe rõ chưa? Y như đêm mưa ở Đà Lốc 1972. Còn nhớ không?” Ông Nhật thì thầm.
“Ôi giời, tưởng chuyện gì”. Ông Mí ngáp. “Mưa gió ấy mà. Quên chuyện cũ đi. Không biết mấy giờ rồi. Thôi, ngủ!”
“Ông ngủ quá nhiều rồi. Dậy, thức với tôi nhé? À, ông có nến không? Bật lửa ông để chỗ nào?”
Ông Mí không trả lời. Chỉ lát sau, ông lại cất vang tiếng ngáy…

Thứ Hai, 5 tháng 9, 2011

CHÙM THƠ DUY KHOÁT (HÀ NỘI)

                                                                      

                                                         NT DUY KHOÁT


DUY KHOÁT

Quê Mão Điền, Thuận Thành, Bắc Ninh. Hiện ở tại Hà Nội.

Nhiều năm công tác tại Nxb Nông nghiệp.

Hội viên: Hội Nhà văn Hà Nội, Hội Nhà báo Việt Nam 

Đã xuất bản các tập thơ:

Sóng chiều (Văn học, 1998), Cây lặng lẽ xanh (Hội Nhà văn, 2004), Giọt sương trên lá (Hội Nhà văn, 2007), Đò chiều (Văn học, 2008) & 2 tập Bút ký.


CHÙA TRONG PHỐ  

Ngôi chùa vừa nâng cấp tân trang
Mái ngói đỏ khoe màu rực rỡ
Tư­ợng Bồ tát cũng vừa tu sửa
Xoá hết cảnh thiền cổ kính rêu phong

Cây cau ni lông quả khế cũng ni lông
Cây nến điện cháy hồng lem lém
Hào quang Phật toả bằng ánh điện
Tiếng mõ tụng kinh khàn đục phát qua băng.

Bàn dịch vụ sư­ thầy ngồi bán sớ
Mô-bai-phôn chuông đổ liên hồi
Có tín chủ vào chùa xin giải hạn
Váy ngắn ngang đùi, đỏ chót son môi.

Tôi chắp tay tr­ước phật Di Đà
Mà chẳng biết cầu xin gì cả
Khi đã thấy bao nhiêu cái giả
Đang lan vào tận cửa từ bi.

                                                                


THĂM TỪ ĐƯỜNG
NGUYỄN KHUYẾN

Thu này con đến thăm nhà cụ
Thành kính dâng Ng­ười nén tâm h­ương
Cụ vẫn trên tay cầm chén rư­ợu
Đôi mắt thâm trầm trong khói v­ương  

Vư­ờn Bùi nay đã bao thay đổi
Ngõ trúc quanh co, trúc đã tàn
Ao thu ai lấp còn non nửa
Lạnh lẽo soi vào mặt thế gian.

Trung Lư­ơng, x­ưa gọi làng Yên Đổ
Truyền kiếp bao năm chửa hết nghèo
Mái cũ ngôi đình đang xập xệ
Đ­ường làng khấp khểnh giữa tre pheo

Khách vẫn cứ về thăm tấp nập
Về nư­ơng bóng mát của vư­ờn Bùi
Lá hoa phảng phất hồn thi sĩ
Sáng lòng yêu n­ước để ta soi

Bâng khuâng con bư­ớc quanh v­ườn ngõ
Thấm đẫm màu thu của thơ Ngư­ời
Ẩnh cụ trên tay cầm chén rư­ợu
Sóng sánh men nồng đang toả hơi.



                                                                        
 NGỌC HÀ

Cái năm em m­ười bảy tuổi
Sao tôi yêu thế Ngọc Hà
Làng tự thủơ Tràng An thanh lịch
Đất với ng­ười thơm ngát h­ương hoa

V­ườn nhà em nhiều hoa hồng bạch
Rặng cúc tần vây quanh quấn quýt tơ hồng
Qua chiếc cổng vòm vào ngôi nhà ngói cổ
Giàn lan tiêu soi bóng mặt ao trong

Những buổi chiều găp em hái hoa
Như­ cung nữ trong v­ườn th­ượng uyển
Tôi xao động trái tim hoàng tử
Nhìn con b­ướm vàng chấp chới quanh em

Có ngờ đâu mình chẳng có duyên
Mộng làm rể làng hoa chợt vỡ
Nay làng hoa chẳng còn hoa nữa
Làn sóng đô thành chen chúc những Vila

Em bây giờ tóc đã s­ương pha
Thành bà quán " Kính mời…xôi nóng"
Con b­ướm vàng đã chết theo v­ườn mộng
Nhập hồn vào cổ tích làng hoa…





Chủ Nhật, 4 tháng 9, 2011

NGUYỄN ĐƯƠNG bình Thu Xa Lý - thơ DUY PHI, nhân ngày khai giảng năm học mới 2011 - 2012

                                          
                                                             TÁC GIẢ NGUYỄN ĐƯƠNG
                                                      

THU XA LÝ


qua Tà Cang sang Khe Luồng
lại vượt ngầm đến nguồn hương Suối Ngà
những nghe Xa Lý là xa
nắm tay nhau mới biết là gần thôi

chiều thu núi lượn với trời
mía thu héo lá mà tươi trong lòng
trường thu tiếng trống điểm tùng
sân chơi bóng mát hát cùng trẻ thơ

vẫn là gặp gỡ ngày xưa
một câu ‘sắng cộ ‘ không bùa mà say
chim khôn ngưng hót càng hay
người khôn ánh mắt đủ lay nghiêng thành
vải thu nhú tím đầu cành
xa thu Xa Lý trăng mình ngậm thu

                                    DUY PHI 



                                                        
      LỜI BÌNH CỦA 
      NGUYỄN ĐƯƠNG

Đây là bài thơ về Xa Lý , một xã thuộc vùng cao Lục Ngạn có nhiều đồng bàodân tộc Sán Chí . Thời tiết trong thơ đang là mùa thu. Chiều thu giữa núi rừng mà không buồn “ngơ ngác” như “tiếng thu” của  Lưu Trọng Lư hay mấy bài thơ về thu của nhiều nhà thơ khác.
Ở các câu đầu, khổ hai của bài thơ ta bắt gặp “chiều thu”,”mía thu”, “trường thu thật gợi cảm. Nhưng chiều thu ở đây “núi lượn với trời”.Từ lượn đã làm bật lên cái vẻ động, cái dương của hồn núi hồn quê vùng cao.
Còn “mía thu héo lá” báo hiệu mía sắp chuyển sang mùa thu hoạch. Sự  tương phản héo lá - tươi lòng bởi vị ngọt, lượng đường đã chứa trong tế bào, trong từng đốt mía chờ ngày thu hoạch.
Niềm vui được nhân lên bởi âm thanh vang dội  của trống trường đâu đó. Tiếng trống trường mùa thu , mùa khởi đầu năm học mới đã điểm, ngôi  trường miền núi cũng rộn ràng tiếng hát trẻ thơ. Niềm hạnh phúc của tấm lòng bậc làm cha làm mẹ. Tín hiệu của no ấm …đã đến với từng nhà …Đến cả bóng mát cũng nhảy múa, muốn hoà đồng với tiếng hát trẻ thơ. Thật vậy : “sân chơi bóng mát hát cùng trẻ thơ”
Bui hi ng không nhiu chi tiết mà vn mang v đẹp đặc thù dân tc.
vẫn là gặp gỡ ngày xưa
một câu “sắng cộ”không bùa mà say
Cuộc chia tay không nói được nên lời, đọng lại trong lòng người đọc bởi hai câu:
chim không ngưng hót càng hay
người khôn ánh mắt đủ lay nghiêng thành

Khép lại  bài thơ, người đọc còn bâng khuâng mãi với câu thơ
 xa thu Xa Lý trăng mình ngậm thu.
Còn những nỗi niềm nào đó trong lòng khi nhìn lên vầng trăng quê nhà -tình đất, tình người Sán Chí ? hay “vẫn là gặp gỡ ngày xưa” , lòng người muôn thuở?…Bất giác tôi nhớ đến câu thơ của tác giả khi viết về Mường Thanh:
Câu quan họ nợ vòng quay cọn nước
Trăm màu rực rỡ nợ hoa ban.                    
   Có lẽ tấm lòng nhà thơ vốn dĩ vậy.
Thu Xa Lý như một bản tình ca về quê hương, mộc mạc chân thành như tình người Sán Chí . Câu thơ không viết hoa đầu dòng cứ liền mạch như con tàu mở tốc độ một hơi đưa khách về đích để bâng khuâng nhớ mãi một miền quê.




                                                              Tháng Tám -2011
                                                                           N.Đ
                                                              

Thứ Bảy, 3 tháng 9, 2011

THÂN VĂN TẬP TRONG TẬP THƠ PHẬN ĐÈN



 


TRĂNG THU


THÂN VĂN TẬP
     
Sinh: 1947 . Quê: Tân Tiến, Việt Yên, Bắc Giang.
Hiện sống và viết tại Thành phố Bắc Giang.
Nguyên Giám đốc
Công ty Quản lý đường bộ tỉnh Bắc Giang.
Hội viên Hội VHNT Bắc Giang.
Tác phẩm đã xuất bản:
* Hương quê  - 2004 * Tình người làm đường – 2004 *
Trăng – 2007 * Bờ duyên – 2008 * Bờ dài - 2010.

NHỚ TRƯỜNG

Phượng hoa cháy đỏ sân trường
Thuở em áo trắng nắng vương tuổi hồng
Đợi em anh đứng ngoài song
Anh như trăng héo
                           khuyết cong cả chiều…

VIẾT Ở
CAO BẰNG

Thác Bản Giốc tóc xòa như tuyết
Suối Lê Nin ngọc bích biếc trong
Hồn non Các Mác mây bông
Ngôi sao Pắc Bó ấm lòng thế gian…

VĂN MIẾU

Trăng xuyên Khuê Các lung linh sáng
Hồ Văn lấp lánh áng thơ bay
Hiền tài còn ẩn ngoài Văn Miếu
Sông núi trời Nam vượng khí đầy…

NGỦ QUÊN

Trăng ngủ võng đò đưa đợi bến
Chị Hằng buông thả nõn búp măng
Thương lũ cá cố bơi chẳng tới
Lăng xăng đớp bọt ngỡ trăng rằm…

 LỜI EM

Tưởng anh buông suối nghiêng dòng đón
Em khỏa thân mình với nước xanh
Ngờ đâu suối đục toan lùa bóng
Em đành cô lẻ với trăng thanh…






Thứ Tư, 31 tháng 8, 2011

VŨ TỪ SƠN TRONG TẬP THƠ PHẬN ĐÈN

PHẬN ĐÈN
Thơ tứ tuyệt



Từ trái:
VŨ TỪ SƠN & DUY PHI
BÊN MÁI LÁ TRUNG QUÂN
DI TÍCH TRONG RỪNG TÀ THIẾT
TẠI LỘC NINH, MIỀN ĐÔNG NAM BỘ



VŨ TỪ SƠN

Sinh: 1949.
Quê: Minh Đức, Từ Sơn, Bắc Ninh.
Hiện sống và viết tại Thành phố Bắc Giang
Hội viên: Hội Thơ Điện Việt Nam,
Hội Văn học Nghệ thuật Bắc Giang.
  Tác phẩm chính - Thơ:
* Một chặng đường (2006)
* Hương sắc thiên nhiên (2007)
* Gửi gió (2008)…
   Giải thưởng:
Giải khuyến khích thơ Hà Bắc - 1982.
Giải nhì thơ Bắc Giang - 2001.


        HỎI DÒNG
THƯƠNG

Thương em vượt cạn mấy lần
“Đang đông buổi chợ” tảo tần nắng sương
Trời làm “lũ quét” dòng Thương
Nửa đau ra biển, nửa buồn ngược đâu…


TA VỀ TÌM LẠI

Be sành đựng rượu quán con
Bờ tre xõa tóc ru mòn võng đay
Mùng tơi tím ngắt bàn tay…
Ta về tìm lại cay cay mắt mình.

GỬI GIÓ

Ta gửi gió bài thơ tình chưa cũ
Người yêu thơ giờ bặt lối nơi nào?
Ta gửi gió lời đóa quỳnh héo rũ
Phía trời xa có thấu động cành dao?


KHÁT

Mây lang thang khát chân trời
Gió lang thang khát rong chơi nổi chìm
Lạc bầy chim khát cánh chim
Tôi lang thang khát đi tìm bóng tôi…

THÁNG BA

Ngủ dưới gốc gạo trước thềm
Chõng tre ngon giấc bặt quên việc đời
Sông nhà nào biết đầy vơi
Sáng ra hoa lửa đỏ trời tháng ba…